Đại Đường từ lúc khai quốc đến nay ngót nghét một trăm năm mươi năm, gần như chưa từng có vị thiên tử nào kế thừa ngai vàng bằng con đường bình an thuận lợi, mỗi một lần quyền lực đổi thay đều song hành cùng những cuộc chính biến và thanh trừng mưa máu gió tanh.
Vị hoàng đế hiện nay càng đẩy truyền thống này lên đến mức tột cùng.
Hắn không chỉ phá vỡ giới hạn về huyết mạch gia tộc, mà còn vượt qua cả hố sâu ngăn cách giữa kẻ hèn kém và bậc quyền quý.
Quần thần rút kinh nghiệm xương máu, quyết tâm dốc sức bồi dưỡng Thái tử Lý Tộ, đồng thời đảm bảo thằng bé có thể yên ổn kế vị, chuyện này nghiễm nhiên trở thành ưu tiên hàng đầu trên triều đường hiện nay, nhờ vậy, bầu không khí đảng tranh phe phái hình thành từ bấy lâu nay ngược lại dần dần lắng xuống.
Suy cho cùng Thái tử còn quá nhỏ mà thánh nhân lại đang độ tráng niên sung sức, mấy chục năm tới ắt chẳng thể dấy lên sóng gió gì.
Năm Chính Hưng thứ bảy là năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Đường không đổi, quốc hiệu vẫn còn.
Thiên hạ vô sự, bốn bể thái bình.
Xuân canh vừa kết thúc, đợi đến lúc quốc sự hơi thong thả, Tể tướng Đỗ Hữu Lân liền dâng đơn từ quan, bị thiên tử cự tuyệt ba lần, ông rốt cuộc vẫn hạ quyết tâm cáo lão, bèn được phong hàm Tập Hiền viện Học sĩ rồi cho phép trí sĩ.
кyhuyen.Com
Ngày hôm ấy, tại Đỗ trạch ở phường Thăng Bình, người đến đưa tiễn vô cùng đông đúc, thỉnh thoảng lại nghe thấy những lời tán tụng "công thành thân thoái".
Đỗ Hữu Lân lại lấy cớ thân thể bất an, chui rịt trong thư phòng mang vẻ mặt ủ dột muộn phiền.
Trên giá Đa Bảo, bộ quan phục màu tía của ông được gấp ghém vuông vức đặt cạnh đai ngọc, thiết nghĩ chắc sẽ chẳng bao giờ mặc tới nữa.
"Kẽo kẹt" một tiếng, cửa bị đẩy ra, Đỗ Ngũ lang bước vào.
Đỗ Hữu Lân vội vã cúi đầu, nâng cuốn sách lên vờ vịt mang dáng điệu điềm nhiên đọc sách.
Mặc kệ ngoài cửa ồn ào náo nhiệt, tâm ông tựa mặt nước tĩnh lặng, mải miết cầu học chẳng biết mệt.
"A gia, khách khứa tiễn về hết rồi, chúng ta cũng thu xếp đồ đạc, ngày mai khởi hành thôi."
"Ân." Đỗ Hữu Lân rầu rĩ đáp, nhưng trong lòng rốt cuộc vẫn không can tâm, chẳng nhịn được oán trách: "Ta thấy, thánh ý nào có khó đoán như ngươi nói, triều đường yên ổn, lấy đâu ra họa sát thân? Đang lúc Đại Đường trung hưng, không một lòng vì nước vì dân, lại bo bo giữ mình tránh họa, thật đáng thẹn."
"A gia là làm Tể tướng chưa đủ ghiền đúng không? Người vốn chẳng giỏi cái trò khéo léo đưa đẩy, mà bệnh nghiện làm quan lại quá lớn, quên mất trước kia vẫn luôn mồm tự dặn mình phải cẩn trọng rồi sao."
Đỗ Ngũ lang vừa nói, vừa ngẩng đầu nhìn mấy bức thư pháp "Cẩn ngôn thận hành", "Như lý bạc băng" treo trong thư phòng, ánh mắt vừa chạm tới, lập tức lặng người.
кyhuyen.Com
Chẳng biết từ bao giờ, Đỗ Hữu Lân đã đổi mấy bức liễn kia thành mấy chữ "Chính kỷ suất thuộc" (Giữ mình ngay thẳng, làm gương cho kẻ dưới), "Phong chí trừng thanh" (Quét sạch bụi trần, trả lại sự thuần khiết cho thế đạo), mang đậm khí phái của bậc Tể tướng.
"Mỗi thời mỗi khác." Đỗ Hữu Lân chống chế, "Năm xưa Lý Lâm Phủ lộng quyền, ta tuân thủ sự cẩn trọng, nay vua sáng tôi hiền, ta thân làm Tể tướng ắt phải lấy mình làm gương..."
"Ở nha môn ngày nào cũng nói không biết chán, về nhà còn lải nhải. Nghĩ một chút tới Nhị tỷ xem, đi thôi."
Nhắc đến chuyện của Đỗ Cấm, Đỗ Hữu Lân đành bất lực thở dài, dẫu có luyến tiếc đến mấy cũng đành phải cất bước.
Trước kia ông vẫn luôn cho rằng nhị nữ nhi nhà mình tính tình quá đỗi ngang tàng, bản thân không quản giáo nổi, thế nhưng nàng bị giam trong Dịch Đình lâu như vậy, ông rốt cuộc cũng sinh lòng lo lắng, đêm hôm đó cứ trằn trọc mãi chẳng thành miên.
Lư Phong Nương từ trước đến nay vốn chẳng phải hạng người biết quan tâm tinh tế, nghe thấy tiếng động ông trở mình, thế mà lại biết cách mở lời an ủi một câu.
"Yên tâm đi, ta nhìn bệ hạ lớn lên, y không phải kẻ tuyệt tình đâu."
"Ta thấy phụ nhân ngươi hồ đồ rồi, bệ hạ đến nhà chúng ta lúc đó mới chừng bao lớn."
кyhuyen.ComĐỗ Hữu Lân lẩm bẩm, bỗng sực nhận ra thoắt cái mười mấy năm đã trôi qua.
Trời còn chưa sáng, Đỗ gia đã chuẩn bị khởi hành.
Hành lý hết thảy đều được chất lên xe ngựa, Đỗ Hữu Lân mang vẻ mặt miễn cưỡng khoác áo choàng bước ra khỏi viện, vừa khéo bắt gặp Đỗ Xuân đang dẫn theo một người bước vào.
Người nọ khoác trên mình một bộ lan bào, vóc dáng gầy gò thanh mảnh, lúc quay đầu lại để lộ ra một khuôn mặt thanh lãnh, thế nhưng lại là Đỗ Cấm.
"Nhị nương?"
Đỗ Hữu Lân sững người, bước tới cẩn thận dò xét Đỗ Cấm vài cái, phát giác nàng không tiều tụy như trong tưởng tượng, trạng thái coi như không tệ, chỉ là nét mặt có phần không được vui vẻ cho lắm.
"Ngươi làm thế nào ra khỏi Dịch Đình được vậy?"
"A gia nhỏ tiếng chút." Đỗ Xuân thấp giọng đáp, "Là Thái tử cầu xin Hoàng hậu, âm thầm thả Nhị nương ra ngoài đấy."
"Điện hạ quả là đứa trẻ ngoan."
Nhắc đến Lý Tộ, Đỗ Hữu Lân không khỏi xót xa.
Trong mắt ông, Lý Tộ là con nuôi của Đỗ Cấm, cũng coi như là cháu ngoại nuôi của ông, Đỗ gia vốn có mối quan hệ thân thiết với Thái tử như thế, nay dọn đi xa về sau ắt sẽ nhạt nhòa, chẳng phải quá đỗi đáng tiếc sao?
Ông đang bùi ngùi thở vắn than dài, nào ngờ lại bị Đỗ Cấm cự nự một câu.
"Tộ nhi là đứa trẻ ngoan còn cần a gia phải nói sao?"
"Ngươi..."
Đỗ Hữu Lân bực dọc vì đám con cái càng ngày càng chẳng coi mình ra gì, thế nhưng suy đi ngẫm lại, Đỗ Cấm vẫn còn sức để cự nự lại ông, cũng coi như là chuyện tốt.
Cả nhà rời khỏi Trường An, nội trong ngày đã đi được hai mươi mấy dặm, đến vùng Thiếu Lăng Nguyên.
Cũng coi như đặt chân tới đích đến của chuyến đi này.
"Đến nơi rồi sao? Không phải nói là đi lánh nạn sao?"
Lư Phong Nương đứng trước cửa lão trạch Đỗ gia nhìn mạng nhện giăng đầy trên rường cột, không khỏi kinh ngạc vạn phần.
Nơi này cách Trường An chưa tới một ngày đường, vì đến đây ẩn cư mà từ bỏ cả ngôi vị Tể tướng, quả thực có chút đáng tiếc.
Cái gọi là "Thành nam Vi Đỗ", tổ tịch của kinh triệu Đỗ gia vốn dĩ nằm ở khu vực phía nam thành Trường An này.
Đỗ Hữu Lân cũng cảm thấy có chút bối rối, đưa mắt nhìn quanh, nói: "Sao lão phu lại thấy, lão trạch gần đi không ít, mang theo cơ man nào là gia sản lề mề rảo bước, trước kia ắt phải mất tới hai ba ngày mới tới."
"A gia trên đường đi còn khen đó thôi, con đường thẳng do triều đình mới tu sửa bằng phẳng dễ đi, tự nhiên sẽ nhanh hơn rồi." Đỗ Xuân nói: "Nếu cưỡi ngựa phi nước đại, chưa tới nửa ngày là đến."
Lư Phong Nương vẫn có phần e sợ, ngoảnh sang nói với Đỗ Ngũ lang: "Vậy lỡ như bệ hạ muốn giáng tội Đỗ gia, chẳng phải vẫn quá gần hay sao?"
"A nương, nếu thực sự bị giáng tội, nương còn chạy trốn đi đằng nào được nữa? Lánh nạn mà, mấu chốt là phải bày ra thái độ không màng thế sự. Hơn nữa, a tỷ thỉnh thoảng vẫn phải về lại Trường An nữa."
"Còn về Trường An làm gì?"
Câu hỏi này rất khó trả lời, Đỗ Ngũ lang hơi khựng lại.
Đỗ Xuân vuốt nhẹ lọn tóc, nói: "Mua sắm ít đồ đạc."
Dứt lời, nàng bất giác quay đầu nhìn Đỗ Cấm một cái, chỉ thấy nàng ta vẫn đang đăm chiêu suy nghĩ, chẳng biết lại đang âu lo điều gì.
Dọn về lão trạch Đỗ gia, mọi người đều vô cùng không quen.
Toàn Thụy rất nhanh đã tìm đến Đỗ Hữu Lân bẩm báo một mớ chuyện vụn vặt.
"A lang, nô bộc trong lão trạch đều đã được xé bỏ tiện tịch rồi, chỉ còn lại mấy người già cả không nguyện ý rời đi, việc trong sân viện còn dễ thu xếp, nhưng ruộng đồng muốn mướn người cày cấy, ắt phải trả thù lao cao hơn mọi năm hai thành, hiện nay những ai có chút sức vóc đều muốn thuê ruộng công của quan phủ..."
"Đừng nói với ta mấy chuyện này." Đỗ Hữu Lân mới nghe được hai câu đã thấy phiền phức, phẩy tay đuổi: "Đi nói với phu nhân đi."
Ông lúi húi tự mình loay hoay sắp xếp chiếc giường sập, luôn cảm thấy xa xa mới sánh bằng độ êm ái của chiếc ghế ở Trường An.
Chiếc ghế đó là đồ ngự ban, dùng vải đay mịn bọc lấy bông gòn làm đệm lót, phần tựa lưng cũng được nhồi nệm, hơn nữa còn được thiết kế độ cong vừa khít với xương sống của ông.
Chỉ một vật dụng nhỏ bé thế này, Tiết Bạch lại bảo phải đợi sản nghiệp trồng bông, dệt vải có bước tiến lớn mới làm ra được, còn việc từ lúc chế tạo ra cho đến khi sản xuất hàng loạt, đưa vào từng ngõ ngách hộ gia đình, e rằng mất tới hai mươi năm cũng chưa chắc đã thành. Ban thưởng cho Đỗ Hữu Lân, là vì muốn ông lúc nào cũng nghĩ đến chuyện trồng bông, lúc nào cũng lo lắng xem bá tánh có phải chịu cảnh rét mướt hay không.
Đỗ Hữu Lân cực kỳ trân quý chiếc ghế ấy, mỗi lần ngồi xuống đều nhẹ nhàng cẩn thận, lần dọn nhà này không mang theo, thực sự là sợ bị va đập hỏng hóc.
"Trong nhà chẳng nhìn thấy bông, ta cũng rũ sạch quan phục nhẹ gánh hồng trần, chẳng cần bận tâm đến chuyện bách tính ấm lạnh nữa rồi."
Ông đang than thở lẩm bẩm, Lư Phong Nương đã hấp tấp chạy tới, trên đường đi luôn miệng càm ràm.
"A lang!"
"Ngày thường không thấy, hóa ra đây chính là tân chính của triều đình. Thuê tá điền còn phải cho thêm hai thành lợi tức, đây là tiền bạc rành rành ra đó, đến cả thiếp thân cũng xót ruột, hèn gì đám người kia lại muốn làm loạn..."
"Suỵt, lời gì bà cũng dám nói sao." Đỗ Hữu Lân quát, "Tiền bạc rành rành cái gì, tiền bất quá cũng chỉ là vật ngoài thân, bớt đi hai thành này, bà liền thiếu tiền tiêu sao? Nông phu có thêm hai thành này, lại có thể bớt phải bán đi một đứa con."
Năng lực của ông thế nào không bàn tới, nhưng ngần ấy năm lăn lộn ở trung khu, sự giác ngộ quả thực rất cao, đằng nào thì ông cũng không quản sổ sách trong nhà, bèn quay ngoắt đầu lại tiếp tục loay hoay với cái ván giường.
"Giường cũng cứng đơ, đến một chiếc đệm bông cũng chẳng có, vẫn là phải trồng bông thôi."
Lư Phong Nương giậm chân, tức tối nói: "Vậy ông đem toàn bộ ruộng đất Đỗ gia đổi sang trồng bông hết đi, cho ông tha hồ mà êm ái!"
Những điều không quen còn rất nhiều, ví như lúc tỉnh dậy vào sáng hôm sau, Đỗ Hữu Lân chắp tay sau lưng dạo một vòng quanh sân, lại chẳng thấy ai đưa báo tới.
Ở Trường An, ông đặt mua tới mười ba loại báo giấy, từ quốc sự đến những câu chuyện phiếm dân gian, từ thi san đến truyện ký, không thiếu thứ gì.
"A lang đang tìm gì vậy?"
"Thiếu Lăng Nguyên e là không mua được báo giấy rồi." Đỗ Hữu Lân mang giọng buồn tủi thở dài.
"Có chứ!" Toàn Thụy đáp, "Ở phiên chợ có dịch quán và báo xá, ngoại trừ vài tờ báo nhỏ, đều có cả. Chỉ là sẽ trễ hơn Trường An một ngày, do vậy tiểu nhân hôm qua không đặt, bảo bọn họ ngày mai hãy mang tới."
"Trễ một ngày thì sao có thể gọi là 'tân văn'?" Đỗ Hữu Lân vẫn không mấy vui vẻ, "Cái gọi là tân văn, cốt yếu là phải mới."
"Vậy hay là... A lang về lại Trường An mà xem?"
Toàn Thụy làm gia nô cho Đỗ gia cả đời, thấy phong trào giải phóng nô lệ ngày càng dâng cao, tuy chưa sinh ra tâm tư gì khác, nhưng dường như cũng bắt đầu bộc lộ chút tính khí của riêng mình.
Đỗ Hữu Lân tức thì sầm mặt phật ý: "Đều tại Đỗ Ngũ lang cái đứa phá gia chi tử này!"
~~
Trái ngược với những người khác trong Đỗ gia, Đỗ Ngũ lang sau khi về lão trạch lại vô cùng vui vẻ.
Thoát khỏi những buổi tiệc tùng xã giao, không bị ai quấy rầy, hắn cảm thấy tự do tự tại, mỗi ngày đều dẫn theo con cái đi ngắm nghía hoa viên rộng lớn, dự tính bài trí ra một phong thái của bậc cao nhân thoát tục.
Từ trước đến nay, hắn đối với cỏ cây hoa lá, chim muông cá thú đều vô cùng hưng thú, dạo gần đây đang tập tành nghiên cứu thuật ghép cành cây ăn quả.
Người ngoài lười chẳng buồn nghe, hắn lại mang đi chia sẻ với con gái.
"A Cô có biết không? Đem cành cây hồng ghép vào cây táo, trái hồng sẽ mọc ra ngon hơn, nguyên do trong chuyện này, bệ hạ bảo là vì 'cơ nhân' (gen) giữa các giống cây khác nhau có thể lấy ưu bù khuyết cho nhau, ta thấy bệ hạ nói hươu nói vượn, nhưng ta muốn thử một phen."
"A gia, ta biết rồi, chúng ta có thể đem kẹo mạch nha ghép lên cây ăn quả, rồi nó sẽ mọc ra rất nhiều rất nhiều kẹo mạch nha!"
"Không phải như vậy." Đỗ Ngũ lang muốn giải thích đôi chút, nhưng lại không biết phải diễn đạt thế nào, cuối cùng đành cười trừ bất lực, vùi vài viên kẹo mạch nha xuống đất.
Sau đó, Đỗ Tinh liền dẫn theo đệ đệ, mỗi ngày cầm theo chiếc xẻng nhỏ đi đào bới khắp nơi, không những chẳng trồng ra được thứ gì, còn đào trốc gốc vô số bụi dây leo trong hoa viên.
Đỗ Ngũ lang cũng không mắng con, bảo Đỗ Tinh không thích dây leo, vậy chúng ta đổi sang trồng trúc nhé.
Nhưng đến khi hắn ôm một ôm mầm trúc đi tới, quay đầu lại con gái đã chạy biến đi đâu mất, chẳng còn thấy bóng dáng...
Đỗ Tinh rón rén mon men tới ngoài cửa phòng Đỗ Cấm, thò đầu vào nhìn dáo dác, chỉ thấy Đỗ Cấm đang ngồi trước bàn, tay cầm bút nhìn chằm chằm vào tờ giấy ngẩn ngơ.
"Cô cô, ngươi thật chăm chỉ học hành nha."
Đỗ Cấm ngẩng đầu lên, thấy Đỗ Tinh bước vào, ánh mắt có phần dịu lại, nhưng sắc mặt vẫn nhạt nhòa, đáp: "Coi như là vậy đi."
Đỗ Tinh bước đến cạnh bàn, muốn xem nàng đang viết gì, lại bị nàng tiện tay lấy một cuốn sách che đậy xấp giấy bản thảo.
"Cô cô đang viết gì vậy?"
"Chuyện của người lớn, con nít đừng xen vào."
Nghe nàng nói thế, Đỗ Tinh ngược lại càng thêm tò mò, ngày thường bắt đầu để tâm đến hành tung của nàng.
Trước kia Đỗ Cấm quá bận rộn, Đỗ Tinh thực chất không hiểu rõ về vị nhị cô này cho lắm, chỉ biết mọi người ai cũng sợ nàng.
"A bà, nhị cô mỗi ngày đều đang làm gì vậy?"
"Nàng ấy đang tu tập đạo pháp, để làm một đạo sĩ."
Lư Phong Nương tiện miệng qua loa chiếu lệ với cháu gái, quay sang bàn tán chuyện Đỗ Cấm với Đỗ Hữu Lân, trong lòng lại vô cùng âu lo.
"Nhìn nàng mỗi ngày đều thất thần, e là đang mưu tính chuyện đại sự gì đó chăng?"
"Có thể có chuyện đại sự gì được?"
Đỗ Hữu Lân lơ đãng đáp lời, ông dạo gần đây đang chuẩn bị viết lách vài cuốn sách.
Với danh vọng Tể tướng của ông, tác phẩm muốn lưu truyền hậu thế rất dễ dàng, nhưng lỡ viết không hay, ngược lại sẽ rước lấy trò cười cho thiên hạ, bị mỉa mai ngàn năm, do vậy ông vô cùng cẩn trọng, kết cục vừa nhắc bút lên, lại chẳng biết nên viết cái gì.
"Bà thử nói xem, lão phu nên viết tập chú về thi từ của bệ hạ, hay là viết về những sóng gió trong giai đoạn từ năm Thiên Bảo đến Chính Hưng thì hơn?"
"Viết tập chú đi, không dễ rước họa." Lư Phong Nương đáp: "Nhị nương cũng là người có đại tài, lỡ như nàng mang lòng ôm hận bệ hạ, đang âm thầm chắp nối với cựu bộ thì sao?"
"Bà chớ kỷ nhân ưu thiên (lo bò trắng răng), nếu còn dám làm ra loại như thế, ắt sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp đâu."
Đỗ Hữu Lân nói vậy, nhưng trong lòng bất giác cũng phủ một tầng âu lo.
Dù sao với quyền thế trước kia của Đỗ Cấm, ít nhiều gì cũng lôi kéo được vài bộ hạ cũ trung thành tận tâm.
Lư Phong Nương thở dài: "Ta coi như hiểu rồi, Đỗ gia không có cái mạng làm Hoàng hậu, mỗi lần muốn dốc sức đánh cược vào chuyện này, đều rơi rụng thảm hại."
"Bớt mơ mộng hão huyền đi, nếu không phải nó nuôi ảo vọng viển vông đó, tướng vị của lão phu... aiz, bỏ đi, ngủ thôi."
Hôm sau, ông bắt đầu chuẩn bị viết tập chú về thi từ của Tiết Bạch, đối với chuyện này ông vô cùng tự tin, cảm thấy bản thân coi như là văn nhân am hiểu về thiên tử nhất hiện nay, nhất định có thể làm tốt việc này hơn bất kỳ ai.
Nhưng đợi đến khi trải giấy mài mực xong xuôi, hồi lâu sau, ngòi bút đọng lại một giọt mực, "tách" một tiếng nhỏ xuống giấy, Đỗ Hữu Lân rốt cuộc vẫn chưa viết được chữ nào.
Nên lấy bài thi từ nào làm tựa đề mở đầu đây?
Ngoài sân ve kêu chim hót, Đỗ Tinh chẳng biết từ lúc nào đã chạy tọt vào phòng.
"A ông, bộ dạng a ông cầm bút nhăn nhó bí bách, trông y hệt nhị cô luôn."
"Ta không phải nhăn nhó bí bách, mà là đang suy xét." Đỗ Hữu Lân kéo cháu gái vào lòng, cười hỏi: "Thành ngữ này là a gia dạy ngươi sao?"
"A gia mới không dùng thành ngữ, là đại cô dạy ta đó."
"A gia ngươi là kẻ chẳng lo học hành." Đỗ Hữu Lân nói: "Cái chữ 'chẳng lo học hành' (bất học vô thuật) này cũng là một thành ngữ, a gia ngươi từ nhỏ đã lười đọc sách."
"A gia cũng đọc sách mà."
Nhắc đến con trai, Đỗ Hữu Lân bĩu môi khinh khỉnh, đáp: "Nó thì có thể đọc loại sách gì."
"A gia đọc《Quân Quốc Lợi Bệnh Thư》đó."
"Hừ, đó thì tính là sách gì, đúng là không lo làm việc đàng hoàng." Đỗ Hữu Lân tiếp lời: "Cái chữ 'không lo việc chính' (bất vụ chính nghiệp) này cũng là một thành ngữ."
"Ta còn biết một cái nữa!" Đỗ Tinh giơ cao tay, đáp: "Khách không mời mà đến."
"Đúng đúng, đây cũng là một thành ngữ."
Đỗ Hữu Lân gật gù liên tục, nở nụ cười mãn nguyện, hỏi lại: "Cũng là đại cô dạy A Cô sao?"
"Không phải, là ban nãy có người tới tìm nhị cô, ta nghe lén bọn họ nói... Phải rồi, còn một thành ngữ nữa, là 'không mời tự tới'."
Nụ cười trên mặt Đỗ Hữu Lân thoắt cái cứng đờ, lúc này mới sực phản ứng lại, nói: "Thế nhưng ta đâu nghe nói có ai đến bái phỏng."
Đỗ Tinh tuổi tuy nhỏ nhưng rất lanh lợi, biết mình đã lỡ miệng, liền không nhiều lời nữa, thè lưỡi một cái rồi ba chân bốn cẳng chạy mất.
Đỗ Hữu Lân vội vã đứng dậy, sải bước chạy vội về phía sân viện của Đỗ Cấm, tới nơi lại thấy bên trong chẳng có một bóng người.
Ông lập tức liên tưởng ngay đến lời Lư Phong Nương nói về việc Đỗ Cấm có khả năng đang ủ mưu làm loạn, trong lòng hoảng hốt cực độ, cuống cuồng chạy đi tìm khắp nơi, bước khỏi cánh cửa nhỏ ở hậu viện, thấy bên ngoài buộc mấy con tuấn mã, ngẩng đầu lên nhìn, phía trước vừa khéo là một rừng trúc, bèn lật đật đuổi theo.
Đi được một chốc, nghe thấy tiếng chuyện trò, lại gần nhìn, hóa ra là ba nam tử đang ngồi bàn bạc trong rừng.
"Các ngươi là ai?!" Đỗ Hữu Lân quát lớn.
Nào ngờ, đối phương nghe thấy tiếng quát hỏi, lại tuyệt nhiên chẳng thèm bận tâm, vội vã đứng dậy chạy sâu vào trong rừng trúc, dường như không muốn chạm mặt ông.
"Đứng lại!"
Đỗ Hữu Lân hấp tấp đuổi theo.
Ông thời trẻ cũng chẳng phải dạng thư sinh trói gà không chặt, nhưng hiện tại dẫu sao cũng đã có tuổi, hiển nhiên không thể nào đuổi kịp đối phương.
Không những không đuổi kịp, ông còn trượt chân một cái, kêu "Ui da" một tiếng, lăn tòm xuống dưới triền dốc, mắc kẹt giữa mấy gốc trúc.
"Ông không sao chứ?"
Lát sau, ba gã hán tử kia quay trở lại, đứng phía trên vọng xuống hỏi.
Đỗ Hữu Lân dường như đã ngất lịm đi, chẳng có lấy một chút tiếng động.
"Đỗ công?"
"Đỗ công?"
"Xuống xem thử đi."
Một người tiến lại gần định đỡ ông dậy, Đỗ Hữu Lân lại bất thình lình tỉnh bừng, một tay túm chặt lấy vạt áo đối phương.
"Gian tặc to gan! Đứng lại!"
Đỗ Hữu Lân quát lớn, trố mắt nhìn kỹ, người trước mắt này ông lại nhận ra được, chính là tướng lĩnh cấm quân Trương Tiểu Kính.
Vừa thấy Đỗ Cấm lại âm thầm liên lạc với loại người nắm giữ binh quyền trọng yếu bực này, Đỗ Hữu Lân lập tức rợn tóc gáy, hai mắt trừng lớn, đầu bì phát ma.
"Trương Tiểu Kính, ngươi tuyệt đối không được làm loạn mưu phản a."
"Đỗ công nói gì vậy? Vô duyên vô cớ vu oan sự trong sạch của ta là không được đâu."
Đỗ Hữu Lân cũng sực nhận ra lời không thể nói toạc ra như vậy, nếu không chuyện còn chưa phát sinh, đã chẳng khác nào ông tự thừa nhận Đỗ Cấm có mưu đồ phản nghịch.
Thế nhưng chuyện này nếu không ra mặt ngăn cản, để mặc nàng như thiêu thân lao đầu vào lửa, rước lấy họa diệt vong không nói, còn liên lụy đến già trẻ lớn bé cả nhà.
Ông đành hỏi rẽ sang hướng khác: "Ngươi đang yên đang lành làm tướng lĩnh cấm quân, tiền đồ vô lượng, chạy tới chốn này làm gì?"
Trương Tiểu Kính dường như đi guốc trong bụng ông biết rõ ông đang lo lắng điều gì, liền đáp: "Ta hiện tại đã là Thái tử Tả Suất vệ Đại tướng quân."
Sự việc dính líu tới Thái tử, Đỗ Hữu Lân nghe xong càng thêm khiếp vía.
"Các ngươi... các ngươi lẽ nào muốn..."
Trương Tiểu Kính lắc đầu lẩm bẩm, cảm thấy ông thực sự quá giống chim sợ cành cong, hèn gì phải vội vã chạy tới vùng Thiếu Lăng Nguyên này ẩn cư.
"Đỗ công đi theo ta đi."
~~
Con suối nhỏ róc rách chảy, hoa đào bên bờ bị gió thổi đong đưa, từng cánh hoa rụng lả tả, cuốn theo dòng nước trôi đi.
Giữa chốn sơn cước tiếng chim hót lảnh lót, bỗng vang lên một tiếng gọi thanh thúy không kém.
"Nhị cô, ta tới rồi."
Đỗ Cấm ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy Đỗ Tinh đang đứng bên kia bờ suối, xắn cao ống quần, lội bì bõm qua dòng nước tiến về phía này.
"Đừng xuống đó, nước lạnh lắm."
Lời còn chưa dứt, tiểu cô nương đã lội ra tới giữa dòng, cười hì hì đáp: "Nước lạnh mới thích chứ, mùa hè nóng muốn chết đi được."
Đỗ Cấm vội bước tới, một tay kéo nàng ra khỏi dòng suối, bực dọc trách móc: "Nhìn ngươi xem, dang nắng đen thui thành cái bộ dạng gì rồi? Mới về đây được bao lâu, đã thật sự biến thành một con nhóc thôn quê."
"Nhị cô, ta tới để báo cho ngươi biết, a ông đi tìm ngươi đấy."
Đỗ Tinh vừa nói, vừa ngoảnh đầu lại, chợt thấy người đang đứng trò chuyện với Đỗ Cấm ban nãy lại là một tiểu nam hài, bất giác mỉm cười rạng rỡ, bước tới xoa đầu hắn.
"Sao ngươi lại tới đây? Kể ngươi nghe, Thiếu Lăng Nguyên vui lắm đó."
"A Cô tỷ."
Lý Tộ từ nhỏ đã bị quản giáo nghiêm, trước mặt người ngoài luôn ra dáng như một người lớn thu nhỏ, nhưng vừa đứng trước mặt Đỗ Tinh, nét trẻ con hồn nhiên liền lộ rõ.
Đỗ Tinh tính tình ngây thơ hoạt bát, cái gì cũng tò mò, giống như một đứa trẻ mãi không chịu lớn, thế nhưng một khi trở về với thế giới của trẻ con, trò gì nàng cũng từng chơi qua, tự nhiên toát ra phong thái của một người tỷ tỷ thực thụ.
"Ai nha, a ông tới kìa."
Đỗ Tinh ngoảnh đầu nhìn, thấy Đỗ Hữu Lân bước tới, lập tức vắt chân lên cổ chạy biến.
Lý Tộ định chạy theo đùa nghịch, nhưng đôi chân ngắn ngủn vừa cất bước đã vội khựng lại, ngoan ngoãn đứng nép bên cạnh Đỗ Cấm, chắp tay hành lễ với Đỗ Hữu Lân.
"Bái kiến Đỗ a ông."
"Lão thần bái kiến Điện hạ."
Đỗ Hữu Lân nhăn nhó với khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn, sầu thảm không nỡ nhìn.
Đây chính là do ưu tư phiền muộn mà ra.
Nhiều lời không tiện nói trước mặt Lý Tộ, ông đành hắng giọng gọi: "A Cô, lại đây!"
"Tới rồi tới rồi!"
Đỗ Tinh lại ba chân bốn cẳng chạy về.
"Ngươi đưa Điện hạ ra đại đường nghỉ ngơi một chốc, ta có vài lời muốn nói với nhị cô của ngươi."
"Được thôi, chúng ta đi nào."
Chẳng mấy chốc, hai đứa trẻ đã tung tăng rời đi.
Đỗ Hữu Lân thở hắt ra một hơi não nề, tốn hết nước bọt khuyên răn: "Vi phụ biết ngươi có tài cán, lôi kéo được Trương Tiểu Kính, dẫn được Thái tử ra ngoài, thế nhưng chống đối bệ hạ chính là tự đâm đầu vào chỗ chết, bệ hạ đã dung tha cho ngươi một lần..."
"Điện hạ là tự mình trốn ra đây, thằng bé nhớ ta."
"Hoang đường!" Đỗ Hữu Lân gắt gỏng: "Nó muốn tới là tới được chắc? Nó mới bao lớn? Đám người lớn bụng dạ khó lường, trẻ con thì hiểu cái gì."
Đỗ Cấm có phần bực dọc, đáp: "A gia tưởng ta đang giở trò gì?"
"Một ngày mười hai canh giờ hồn phách lên mây, không phải ủ mưu thì còn nghĩ cái gì?!"
"Ha."
Đỗ Cấm thế mà lại mặc kệ sự trách móc, cười nhẹ một tiếng, quay lưng bỏ đi.
Nếu hỏi nàng đang nghĩ gì, dạo gần đây nàng quả thực có một nỗi phiền lòng.
Việc đó đối với nàng mà nói cũng là một đề bài hóc búa, nghĩ nát óc cũng chẳng tìm ra cách tháo gỡ.
Nàng rảo bước men theo bờ suối một đoạn, dần dần nghe thấy phía trước vẳng lại tiếng cười nói giòn giã.
Đó là một khu trại cắm dã ngoại, dựng vài chiếc lều lớn, có mấy tỳ nữ đang tản mạn ngắm cảnh bên suối, thấy nàng bước tới, đều ngoái đầu nhìn theo, khiến nàng cảm thấy cực kỳ mất tự nhiên.
"Đỗ nhị nương mời lối này, nương tử đang đợi."
"Được."
Đỗ Cấm nhạt giọng đáp, đi theo một tỳ nữ bước tới một tòa đình râm mát dưới tán cây.
Trong đình đang có người chơi mạt chược.
"Bính."
Nữ tử với nụ cười tựa như hoa bung nở vừa hạ bài xuống, ngước mắt thấy Đỗ Cấm, khẽ gật đầu.
Một cái liếc nhìn mang đầy vẻ phong tình, khiến ngàn hoa chốn sơn cước chung quanh đều nhạt nhòa thất sắc.
Đỗ Cấm siết chặt tay giấu trong ống tay áo, bên trong có một tờ giấy, là bức thư tạ lỗi gửi Dương Ngọc Hoàn mà dạo gần đây nàng phải nát óc suy tư mới viết thành.
Đây chính là muộn phiền lớn nhất của nàng thời điểm hiện tại.
Nàng bị ép phải đích thân mở lời xin lỗi Dương Ngọc Hoàn, thế nhưng thực sự không biết nên mở miệng thế nào...
~~
Thoắt cái mùa thu đã trôi qua, tiết trời bắt đầu chuyển lạnh.
Năm Chính Hưng thứ bảy thấm thoắt sắp đi đến những ngày cuối cùng, Đỗ gia dọn về Thiếu Lăng Nguyên đã trải qua một năm vô cùng bình lặng.
Đỗ Ngũ lang cực kỳ yêu thích cuộc sống nhàn tản này, tùy tâm sở dục, không bị những hỉ nộ ái ố phàm tục hối thúc.
Người đời luôn cho rằng quyền lực và tiền tài là thứ tốt đẹp nhất, thế nhưng đó cũng chỉ là người đời tự cho là vậy mà thôi.
Mỗi ngày hắn cặm cụi chăm chút dăm ba nụ hoa cây trái, cũng tập tành cuốc đất trồng rau, trồng không nhiều, cỡ chừng một hai mẫu, thu hoạch chút nguyên liệu để nghiên cứu món ăn là đủ, lúc rảnh rỗi lại ngồi lật mở sách vở, thi thoảng cũng viết lại dăm ba dòng tâm đắc.
Những tâm đắc này rất tạp nham, từ chuyện nông tang, việc trồng cây ăn trái, đến những hồi ức và cảm ngộ về quá khứ, còn có cả những cái nhìn về báo chí sách vở.
Dạo gần đây hắn đang đọc một cuốn《Quân Quốc Lợi Bệnh Thư》, là do một tác giả ký tên Cố Viêm Vũ đăng dài kỳ trên báo, sau được người ta tổng hợp in thành sách. Sách không dễ đọc chút nào, tối nghĩa thâm sâu, mỗi ngày hắn cũng chỉ ngấu nghiến được một hai trang, thỉnh thoảng còn phải lật xem lại từ đầu, thế nhưng chưa từng bỏ dở.
Vì hắn nghe những người khác đều than vãn đọc không hiểu, nhưng kỳ lạ ở chỗ, hắn lại cảm thấy bản thân mình lĩnh hội được.
Nhưng hắn lại cho rằng quan điểm của tác giả quá mức cực đoan, do vậy cũng tự tay viết xuống vài quan điểm trái chiều, đưa ra những chủ trương ôn hòa hơn. Đương nhiên, cũng chỉ là hứng lên thì tiện tay vung vài nét bút mà thôi.
Hắn văn hay chữ tốt thì chẳng có, rặt dùng khẩu ngữ dân dã mộc mạc, cũng chưa từng ấp ủ ý định tập hợp thành sách để đời, thuần túy chỉ là thứ mua vui lúc rảnh rỗi nơi sơn dã, cả một năm trời qua đi mới chỉ góp nhặt được mấy chục trang tùy bút.
Trái lại, Đỗ Hữu Lân với tâm huyết gom góp tập chú thi từ của thiên tử lại đạt được những bước tiến đáng kể, phần lớn thơ ca và bình chú đều đã được thu thập trọn vẹn.
Hôm đó, Thiếu Lăng Nguyên đổ một trận tuyết nhỏ, Đỗ Ngũ lang nhàn rỗi không có việc gì, tiện tay lật mở vài trang tập chú của Đỗ Hữu Lân, buông vài lời bình phẩm.
"Mấy năm nay, số người lao vào chú giải thi từ cho bệ hạ đông như cá diếc qua sông, a gia lại hùa theo cái phong trào này, liệu có đẻ ra được chút ý tứ mới mẻ nào không?"
"Ta hiểu bệ hạ."
"A gia mà hiểu bệ hạ, thì đã chẳng phải treo ấn từ quan."
Đỗ Ngũ lang tiện tay lật bừa, đọc vài đoạn bình giải ở giữa, cảm thấy diễn giải sai lệch nhiều so với hàm ý thi từ gốc, đành ngán ngẩm lắc đầu.
Tiếp đó, hắn vô tình lật đến trang đầu tiên, bất giác khựng lại.
"Bài từ mở đầu mà a gia chọn, ta thế mà chưa từng nghe qua, là bệ hạ sáng tác sao?"
Đỗ Hữu Lân đắc ý, vuốt râu mỉm cười: "Không sai."
Đỗ Ngũ lang nheo mắt, cẩn thận nghiền ngẫm bài tựa.
"Ngày mồng sáu tháng Tư, trên đường đến Phàn Xuyên gặp mưa, người đồng hành thảy đều chật vật, duy chỉ ta chẳng màng, trời lại hửng nắng, thế nên viết bài này."
Hắn bất giác tự hỏi là ngày mồng sáu tháng Bảy năm nào, ít nhất là trong năm sáu năm đổ lại đây, hắn nhớ rất rõ Tiết Bạch chưa từng đặt chân đến Phàn Xuyên.
Là lần xuất binh thu phục quân phản nghịch ở chùa Hương Tích sao?
Xem ra ý từ cũng có nét tương đồng... Đó là bài《Định Phong Ba》.
"Mạc thính xuyên lâm đả diệp thanh, Hà phương ngâm tiếu thả từ hành. Trúc trượng mang hài khinh thắng mã, Thùy phạ? Nhất thoa yên vũ nhậm bình sinh."
(Đừng bận tâm tiếng mưa xào xạc ngoài kia, cứ mặc sức ngâm vịnh mà đi chậm rãi. Đôi giày cỏ này còn nhẹ nhàng hơn vinh hoa trên lưng ngựa, thì sợ gì sương gió? Chỉ cần một manh áo tơi, mặc cho khói mưa bao phủ cả kiếp người.)
Đỗ Ngũ lang lẩm nhẩm đi lẩm nhẩm lại bài từ, lại liếc xuống phần bình giải bên dưới.
Thực lòng mà nói, phần bình giải của Đỗ Hữu Lân vô cùng nhạt nhẽo, chẳng hề đề cập đến bối cảnh hoàn cảnh ra đời, chỉ thao thao bất tuyệt kể về cảm xúc của bản thân lúc đang tháp tùng thánh giá.
"A gia, bài từ này, bệ hạ làm khi nào vậy?"
"Muốn biết sao?" Đỗ Hữu Lân hất hàm kiêu ngạo: "Đợi đến ngày tập chú của lão phu đại cáo thành công, ngươi ắt sẽ biết."
Ông giật lấy bản thảo tâm huyết của mình, hừ lạnh một tiếng, càu nhàu: "Còn nói lão phu a dua hùa theo, khỏi đọc!"
~~
Đỗ Ngũ lang vốn là kẻ mọi sự chẳng vướng bận chuyện đời, chưa bao giờ để bụng tâm sự.
Thế nhưng kể từ ngày hôm ấy, trong lòng hắn lại vương vấn hình bóng Tiết Bạch.
Hắn bắt đầu manh nha một giả định, có lẽ bệ hạ thực ra không hề trách cứ Đỗ Cấm, cũng không hề oán giận Đỗ gia?
Có lẽ có thể quay về Trường An, diện kiến bệ hạ thêm lần nữa?
Mỗi lần ý niệm ấy nảy sinh, Đỗ Ngũ lang lại tự mình đè nén nó xuống.
Hắn tự nhủ, gần gũi quân vương như chơi với hổ, nếu đã quyết tâm quy ẩn, thì chớ dại dột chui đầu vào vòng xoáy quyền lực.
Chính vì cứ để tâm đến những việc này, có đôi lúc nửa đêm trằn trọc khó ngủ, nghĩ về việc quyền lực đã làm Tiết Bạch thay đổi nhường nào, sau đó đọc lại《Quân Quốc Lợi Bệnh Thư》, những lĩnh hội của hắn lại rẽ sang một chiều hướng hoàn toàn khác biệt.
Chớp mắt đã vào đông, đêm đó tuyết chợt đổ nặng hạt.
Nửa đêm đầu, hoa tuyết lả tả buông rơi, về cuối đêm, gió rít từng cơn đập vào cửa sổ vang lên những tiếng lạch cạch.
Hắn khoác áo choàng trở dậy, mài mực, nhấc bút đề lên mặt giấy hai chữ "Quân quyền", sau đó đắn đo suy xét, mãi vẫn chưa biết nên đặt bút thế nào.
Bất chợt, hắn dường như nghe thấy tiếng động gì đó, đẩy cửa bước ra, hướng mắt nhìn về phía viện sau, quả nhiên thấy bên kia ánh đèn leo lét hắt sáng.
Đỗ Ngũ lang do dự một chốc, rảo bước về phía ấy, trước tiên đi qua xem xét chuồng ngựa, liền thấy bên trong có một con tuấn mã cực kỳ bắt mắt.
Hắn bước tới vỗ nhẹ cửa viện, lên tiếng dò hỏi: "A tỷ, ngủ chưa?"
Vừa đẩy cửa, liền thấy một bóng người đang đứng dưới mái hiên ngắm tuyết, vì tiếng gõ cửa, người nọ toan quay lưng bước vào nhà.
"Khoan đã." Đỗ Ngũ lang đã nhanh chân cất tiếng gọi giật đối phương lại, trầm giọng: "Ngươi là ai?!"
Lời vừa buông, thực chất trong lòng hắn đã lờ mờ nhận ra đối phương là ai.
Cảnh tượng trước mắt dường như từng quen biết đâu đây.
Trong màn mưa tuyết mịt mùng, bóng người đứng dưới mái hiên quay đầu lại. Dưới ánh tuyết hắt lên bàng bạc, lộ ra khuôn mặt đã lâu Đỗ Ngũ lang chưa gặp gỡ, y khẽ mỉm cười, điềm nhiên cất giọng, câu trả lời nhẹ bẫng tan vào gió tuyết ——
"Tiết Bạch."