Chương 633: Mãn Đường hoa thải

Năm Chính Hưng thứ mười sáu, Vương Xương Linh lúc bấy giờ đang giữ chức Bí thư Giám, Tập Hiền viện Học sĩ kiêm Báo san viện sứ, dâng biểu trí sĩ. Năm nay ông đã thọ bảy mươi chín tuổi, tự thấy nửa đời người vùi đầu vào giấy mực, mà nay văn phong thiên hạ ngày càng hưng thịnh, không nên để một lão già mắt mờ trí lú như mình tiếp tục quản lý báo chí nữa, muốn rũ áo từ quan, về lại Tung Sơn - nơi thuở thiếu thời từng tu đạo - để nhìn ngắm một phen. Tháng ba tiết mạt xuân, Thái tử Lý Tộ lấy lễ đệ tử tự tay dắt ngựa cầm cương cho Vương Xương Linh, tiễn chân mãi đến tận Bá Lăng. Lão sư của Lý Tộ rất nhiều, Vương Xương Linh tuy chỉ dạy hắn thi phú, nhưng tình cảm sư đồ lại vô cùng sâu đậm. Thấy Lý Tộ lưu luyến không nỡ rời, Vương Xương Linh mỉm cười: "Điện hạ gánh vác trọng trách, không được làm ra vẻ tiểu nhi nữ yểu điệu. Trước lúc chia tay, lão thần vẫn còn một món quà muốn tặng Điện hạ." "Lão sư, là vật gì vậy?" "Qua ít ngày nữa Điện hạ tự khắc sẽ biết." Dứt lời, Vương Xương Linh rũ sạch bụi trần tục lụy, bước lên xe ngựa, dọc theo con đường thẳng tắp thênh thang, hướng về phía ánh triều dương mà đi. ḳyhuyen.Com ~~ Cùng lúc đó, tại Đỗ trạch ở Thiếu Lăng Nguyên. Đỗ Ngũ lang gõ cửa bước vào thư phòng, chỉ thấy Đỗ Hữu Lân sống mũi vắt một cặp kính lão, tay ghim một cây bút chì đang cặm cụi viết gì đó. "A gia lại đang viết tập chú sao?" "Lần này làm chú giải cho thi tập của Vương Xương Linh." Đỗ Hữu Lân đáp. Đỗ Ngũ lang bất giác lo lắng: "A gia vẫn nên lượng sức mà làm, chớ có đắc tội Vương công." Lời này tuy chẳng mấy cung hiếu, nhưng quả thực có không ít văn nhân chê bai a gia hắn thi tài bình dung, chỉ dựa vào may mắn mới leo lên được Tướng vị. Quả nhiên, Đỗ Hữu Lân lập tức quát mắng: "Ngươi đang nói cái thứ gì vậy? Là Vương huynh đích thân tới nhà, nhờ ta làm chú giải cho thi tập của huynh ấy." "Vì sao?" Đỗ Ngũ lang vô cùng khó hiểu. "Tự nhiên là vì lão phu viết tập chú quá hay."
ḳyhuyen.Com Nghe xong, Đỗ Ngũ lang khẽ nhướn mày, hiển nhiên là không tin. Đỗ Hữu Lân khá bực dọc vì cái thằng con chẳng lo học hành này lại dám quay ngược lại coi thường tài hoa của mình, hừ lạnh một tiếng, lười chẳng muốn đôi co, chuyển sang bàn chuyện chính sự. "Gọi ngươi tới, là vì hôn sự của Điện hạ và A Cô." "Hôn sự?" Đỗ Ngũ lang gắt: "Ai nói A Cô phải gả cho Điện hạ? Chuyện này ta còn chưa đáp ứng đâu. Dẫu là đương kim bệ hạ, cũng đích thân nói qua chuyện này sẽ tôn trọng ý kiến của ta!" Nhắc tới chủ đề này hắn liền có chút kích động, cao giọng hẳn lên, bày ra cái khí thế cực kỳ hiếm thấy. Mối hôn sự của đám hậu bối này, Tiết Bạch quả thực từng lén lút dò hỏi hắn, lúc bị hắn cự tuyệt liền biểu thị sẽ không nhúng tay vào, để Lý Tộ tự mình tìm cách lay động hắn. "Ta đáp ứng rồi!" Đỗ Hữu Lân gào to hơn, át cả tiếng hắn: "Là Xương Linh huynh đích thân đến làm mai cho đệ tử, sính lễ ta cũng đã nhận rồi..."
ḳyhuyen.Com"Vì cớ gì a gia cứ phải đẩy A Cô vào cái hố lửa Đông Cung?" "Trai gái mến thương nhau, A Cô không gả cho Điện hạ thì còn gả cho ai?" "Ai quy định con bé nhất thiết phải gả chồng?" Đỗ Ngũ lang cãi: "Dù có ế cả đời, ta cũng nuôi nổi đứa con gái này." "Ngươi định dựa vào dăm ba củ khoai tây để nuôi sống cả nhà sao!" Đỗ Hữu Lân đập bàn giận dữ, bày ra uy phong của người làm cha, quát lớn: "Cút ra ngoài, chuyện này lão phu quyết định rồi." Cũng chính vì một câu nói này của ông, Đỗ gia rốt cuộc cũng có được một vị Thái tử phi. Mà ngay sau khi đại điển Đông Cung cáo thành, mùa thu năm đó, Đỗ Hữu Lân nhận được một phong thiệp mời. "Bờ sông Tần Hoài, bến Bạch Lộ, Thi hội Kim Lăng, đợi người quang lâm." Nhìn xuống phần lạc khoản bên dưới, lại ghi rõ "Vương Xương Linh kính thư". Đỗ Hữu Lân lập tức coi trọng, dò hỏi một phen. Hóa ra, Vương Xương Linh sau khi trí sĩ quy ẩn Tung Sơn, bỗng hoài niệm thuở làm Huyện úy Giang Ninh năm xưa, bèn lôi tấm thân già nua lặn lội tới Giang Lăng. Mà Lý Bạch, bấy giờ đang nhậm chức Lễ bộ Thị lang, Hàn lâm Học sĩ cũng chẳng buồn ở lại Trường An, treo ấn từ quan du ngoạn thiên hạ, nói là muốn ra khơi viễn dương, chiêm ngưỡng phong quang nơi tận cùng trời đất. Vương Xương Linh và Lý Bạch tao ngộ ở Kim Lăng, giới văn nhân Giang Nam cho đây là chuyện cực kỳ trân quý, liền lấy danh nghĩa của bọn họ để tổ chức một buổi văn hội. Đỗ Hữu Lân hiện nay nhờ viết tập chú thi từ cho thiên tử mà nghiễm nhiên có chỗ đứng vững chắc trên văn đàn, tất nhiên không thể không góp mặt. ~~ Tháng Mười, Kim Lăng. Sông Tần Hoài nước chảy róc rách, trước miếu Phu Tử bóng người qua lại như mắc cửi. Trên cầu Văn Đức, một đôi nam nữ đang rưng rưng nước mắt nói lời từ biệt. Nhưng phần đông người qua đường lại xúm đen xúm đỏ trước miếu Phu Tử, nghển cổ nhòm vào buổi văn hội đang được tổ chức trong khuôn viên bên cạnh. Nhờ sự hưng thịnh của báo giấy và ngành in ấn, khiến cho Đại Đường vốn đã rực rỡ thi ca nay lại càng thêm thịnh trị văn phong, dẫu là hạng phường phố ít học cũng có thể ngâm nga vài câu thơ, chen chân góp vui. "Kìa, 'Tứ Quỳ' tới rồi." "Đó là ai vậy?" "Bốn vị danh sĩ tá túc ở Giang Ninh, Hàn Hội, Lư Đông Mỹ, Thôi Tạo, Trương Chính Tắc, đều là tuấn kiệt nức tiếng một thời." "Đứa trẻ đi theo sau lưng họ là ai vậy?" "Ắt hẳn là nhi tử của một trong Tứ Quỳ chăng..." Giữa chốn đông đúc nhộn nhịp, Hàn Dũ lên bảy tuổi chốc chốc lại nghển cổ tò mò ngó nghiêng. Hàn Dũ từ nhỏ mồ côi cha, do huynh trưởng Hàn Hội nuôi nấng khôn lớn. Hắn mê đọc thi thư, hôm nay theo huynh trưởng tới đây cốt để mở mang tầm mắt. Nghe huynh trưởng hàn huyên cùng bằng hữu, nhắc tới chuyện "Hôm nay Nhan công liệu có đến không", mắt Hàn Dũ bất giác sáng rực, ngập tràn mong đợi. Hắn đặc biệt yêu thích bài《Mã Thuyết》do thiên tử lấy hóa danh "Hàn Dũ" mượn tay Nhan Chân Khanh chắp bút, cảm thấy bài văn ấy có duyên phận với mình, thầm nghĩ hôm nay nếu được diện kiến Nhan công thì thật tốt quá, thế là lẩm nhẩm trong bụng mấy câu "Hắc phát bất tri cần học tảo, Bạch thủ phương hối độc thư trì" (Tóc đen không biết chăm học sớm, Bạc đầu mới hối đọc sách muộn) thêm vài bận, định bụng lát nữa phải thể hiện thật tốt trước mặt Nhan Chân Khanh. Tới hội trường, Hàn Hội bảo Hàn Dũ ngồi xuống một bên, dặn dò: "Đệ cứ ngoan ngoãn ngồi xem ở đây, chớ chạy lung tung." "Vâng, huynh trưởng." Hàn Dũ vâng dạ, khoanh chân ngồi xuống, đưa mắt ngó quanh, liền phát giác bên cạnh có hai phụ nhân, mỗi người đang bồng một đứa trẻ chừng ba bốn tuổi. Hai đứa nhóc trêu chọc nhau một hồi, quay đầu lại, đôi mắt lanh lợi tò mò đánh giá cái vị đại ca ca là Hàn Dũ này. "Hai đệ tên là gì vậy?" Hàn Dũ cất tiếng trêu. "Nhũ danh của ta là 'A Thùy'." "Đại danh thì sao?" "Cư Dị." Giọng nói non nớt vang lên: "Bạch Cư Dị." Hàn Dũ liền ngoảnh sang hỏi đứa trẻ còn lại: "Còn đệ?" "Ta là Thập Cửu lang." Đứa trẻ kia xòe hai bàn tay bé xíu ra, muốn múa may số mười chín mà chẳng biết làm sao, vẻ mặt vô cùng khổ não. Bạch Cư Dị đã dùng chất giọng ngọt xớt nhanh nhảu tranh đáp: "Đệ ấy tên Lưu Vũ Tích đó." "Ta còn chưa nói mà, để ta tự nói tên mình." Lưu Vũ Tích sốt ruột, ngặt nỗi khoản ăn nói còn lóng ngóng thua xa Bạch Cư Dị. Hàn Dũ không khỏi buồn cười, hỏi: "Đệ mới tí xíu thế này đã đi tham gia văn hội rồi sao?" Bạch Cư Dị ngoẹo đầu, đốp lại: "Nhưng huynh cũng đâu có lớn." Đang lúc chuyện trò, ngoài cửa chợt dấy lên một tràng tung hô. Hàn Dũ quay đầu nhìn lại, tức thì cũng phấn khích lên, bởi người mới tới chính là Chủ biên tờ《Tân Tư Báo》Diêu Nhữ Năng. Nếu luận về thi từ ca phú, chốn này có vô khối danh gia vượt xa Diêu Nhữ Năng cả chục con phố. Nhưng sự hưng thịnh của báo chí đã mang đến cho hắn một sân khấu để thi thố, bá tánh cực kỳ si mê những câu chuyện ký sự chân thực của hắn, tỷ như《An Lộc Sơn thực lục》,《Dương Quốc Trung thực lục》, mà những năm gần đây hắn lại chuyển hướng sang vạch trần tội ác của đám quyền quý, nên trong dân gian đã tạo dựng được thanh danh cực kỳ lớn. "Diêu công, đội thuyền viễn dương đã quay về rồi, ngài có nhận xét gì về chuyện này không?" "Lần này đội thuyền viễn dương thực sự đã quay về, đây là chuyện đáng mừng, nhưng ta vẫn cho rằng trước đây triều đình đã bưng bít chân tướng..." "Diêu công, mạn phép hỏi Cố Viêm Vũ tiên sinh hôm nay có ra mặt không?" Chợt có người thét lên một câu, gây ra một trận xôn xao lớn. "Mong các vị lượng thứ, đến ngay cả ta cũng chưa từng được diện kiến Cố tiên sinh." Diêu Nhữ Năng đáp. Đám đông nghe vậy thảy đều chưng hửng, buông tiếng thở dài tiếc rẻ. Diêu Nhữ Năng liền mỉm cười, nói tiếp: "Nhưng mà, cho thi hội ngày hôm nay, Cố tiên sinh cũng có gửi tặng một bài thơ, lát nữa các vị tự khắc sẽ được thưởng thức." Lại có người gào lên hỏi: "Đường Mậu tiên sinh có đến không?" Nghe thấy bốn chữ "Đường Mậu tiên sinh", đến cả Hàn Dũ cũng phải bật dậy, mắt mở thao láo, tràn đầy mong ngóng. Hắn tuổi còn nhỏ, đọc không hiểu văn của Cố Viêm Vũ, nhưng thường xuyên nghe huynh trưởng nhắc Cố tiên sinh là bậc kỳ tài khoáng thế. Còn về Đường Mậu tiên sinh, lại là một kỳ nhân khác thường xuyên gửi bài cho《Tân Tư Báo》, văn phong đại xảo bất công (sự tài tình tột bậc thường trông như vụng về), trong cái mộc mạc lại chứa đựng thứ trí tuệ lớn lao, dễ dàng được một Hàn Dũ hiện tại tiếp thu hơn hẳn. Ngồi ở vị trí thượng tọa, Đỗ Hữu Lân lại khẽ nhíu mày, ông phàm chuyện gì cũng đứng về phe thiên tử, tự nhiên sinh lòng bất mãn với mấy bài viết của Diêu Nhữ Năng. Thêm nữa, đối với vài nội dung trên《Tân Tư Báo》, Đỗ Hữu Lân cũng cực kỳ bài xích, những năm ẩn cư ở Thiếu Lăng Nguyên này, ông gần như chẳng thèm ngó ngàng gì tới tờ báo này nữa. Từ lúc Diêu Nhữ Năng tới nơi, thời gian cũng đã điểm quá buổi, nhưng văn hội vẫn chưa bắt đầu, tràng kỷ dần tĩnh lặng, bắt đầu có tiếng xì xầm bàn tán. "Sao còn chưa bắt đầu." "Lý Thái Bạch vẫn chưa tới." "E là lại chìm trong hũ hèm rồi, 'Lý Bạch đẩu tửu thi bách thiên, Trường An thị thượng tửu gia miên' (Lý Bạch một đấu rượu làm trăm bài thơ, Nằm ngủ khì trong quán rượu chợ Trường An) mà." "Hôm nay phải là 'Phong xuy liễu hoa mãn điếm hương, Ngô cơ áp tửu khuyến khách thường' (Gió thổi hoa liễu bay thơm lừng quán nhỏ, Ngô cơ ép rượu khuyên khách nếm thử) mới đúng." "Tụ hội bên sông Tần Hoài sao có thể vắng bóng Lý Thái Bạch. Chưa nói đâu xa, cái cầu Văn Đức ngay trước mặt đây, cũng vì y từng sầu ẩm ngắm trăng ở đó, mới sinh ra giai thoại 'Thái Bạch túy ngọa lao nguyệt xứ' (Nơi Thái Bạch say rượu vớt trăng) đấy..." Đang rôm rả bàn tán, một người sải bước hiên ngang tiến vào, dõng dạc nói: "Vương công, Đỗ công, cùng chư vị xin chớ trách, ta đến muộn." Đỗ Hữu Lân không nhận ra người này, phải để Vương Xương Linh ghé tai nói nhỏ: "Đây chính là Thôi Động." Thôi Động vừa tới, đám đông thi nhau liếc nhìn, bởi ai nấy đều biết hắn nay đã phú khả địch quốc. Danh gia vọng tộc đổ tiền vào Hải chính nhiều vô kể, nhưng cá nhân nắm giữ lượng cổ phần lớn nhất lại chính là Thôi Động, xấp khoán thư từng bị người ta vứt xó như giẻ rách năm xưa, nay mỗi tờ đều hóa thành mỏ vàng đào mãi không cạn. Hắn được xem là đại diện tiêu biểu cho giới hải thương Đại Đường hiện tại. Cũng là người đầu tiên chuyển mình từ đại địa chủ thế gia sang hải thương. Văn hội hôm nay tuy mượn danh Vương Xương Linh để tổ chức, nhưng người xuất tiền bao trọn gói lại là Thôi Động, hắn mới thực sự là tay đông đạo chủ. Có mặt ở đây đa phần là văn nhân, vốn dĩ căm ghét phường con buôn, thế nhưng Thôi Động không hẳn là một con buôn rặt ròng, thi tài của hắn đè bẹp phần lớn số người ngồi đây, thuộc vào hàng phất lên rồi nhưng vẫn giữ thói tao nhã yêu thi văn. "Đỗ công, ngưỡng mộ đã lâu." Thôi Động tỏ ra vô cùng kính trọng Đỗ Hữu Lân. Sự kính trọng này bắt nguồn từ lòng sùng bái của hắn dành cho đương kim thiên tử. Kể ra cũng nực cười, công tử đích tôn của Bác Lăng Thôi thị và vị hoàng đế dùng thủ đoạn tàn độc chèn ép thế gia đáng lẽ phải như nước với lửa, thế nhưng hiện tại lại chung một mục tiêu, đồng điệu tư tưởng. Thôi Động không chỉ kiên định tin tưởng vào tương lai của Đại Đường, mà đối với tư tưởng trong thi từ, thậm chí là từng lời nói hành động của thiên tử, đều sùng bái đến cực độ. Đương nhiên, thứ người đời mê đắm hơn cả vẫn là Lý Thái Bạch. Đến cả Đỗ Hữu Lân cũng phải hỏi trước: "Thái Bạch tiên sinh không tới cùng ngươi sao?" "Đúng rồi, Thái Bạch tiên sinh sao còn chưa tới." Nhắc đến Lý Bạch, đám đông thi nhau nghển cổ, ánh mắt mong ngóng hướng ra ngoài cửa. Hôm nay có khối người tới đây chỉ vì cái danh Lý Bạch. Hàn Dũ cũng siết chặt nắm tay, mắt sáng long lanh, trong bụng không ngừng gào thét một cái tên. "Lý Thái Bạch, Lý Thái Bạch!" Thế nhưng, Thôi Động lại chắp tay vái chào mọi người một vòng, đáp: "Chư vị, mạn phép cáo lỗi, Thái Bạch tiên sinh vốn dĩ định tới, chỉ là..." Vương Xương Linh nghe đến đây đã cười khổ, thừa hiểu với cái nết của Lý Bạch, hôm nay e là sẽ bặt tăm, chỉ không rõ lại lưu lạc phương nào rồi. "Ban nãy bên bờ Trường Giang gặp một bầy cá heo trắng, Thái Bạch tiên sinh nổi hứng, thuê thuyền đuổi theo đùa giỡn cùng bọn chúng trên Trường Giang rồi." Đổi lại là bất kỳ ai khác, đều không đời nào vì cái lý do lãng xẹt này mà bỏ rơi bao nhiêu danh sĩ văn khách. Mà đổi lại là bất kỳ ai khác, đám đông cũng sẽ không đời nào dung thứ cho cái sự ngông cuồng làm càn đó. Nhưng bởi vì đó là Lý Bạch, người đời yêu mến hắn, chính là yêu mến cái sự tự do tự tại, phóng túng bất kham ấy. Ánh mắt Hàn Dũ lướt qua toàn bộ "tục nhân" trong sảnh, dường như mường tượng ra viễn cảnh trên dòng Trường Giang cuồn cuộn sóng vỗ, Lý Bạch cùng đàn cá heo trắng thỏa sức bơi lội đùa giỡn tung bọt nước. Văn hội vì thế không chờ nữa mà khai mạc, mọi người lần lượt dâng thơ lên nhờ Vương Xương Linh bình phẩm, trong số đó không thiếu giai tác. Hàn Dũ lúc đầu chỉ đứng ngoài quan sát, nghe được nhiều câu thơ hay xong máu nóng trong người dần sôi sục, trong mắt tóe lên tia sáng muốn nhảy vào thử sức, bèn giơ cao cánh tay. Hắn vốn dĩ hơi nhát cáy, thế nhưng Vương Xương Linh "mắt mờ trí lú" lại vừa khéo nhìn thấy hắn, mỉm cười hỏi: "Vị tiểu hữu này cũng có thơ muốn đọc sao?" "Có." Hàn Dũ nghé con không sợ hổ, dõng dạc đáp: "Tiểu tử cũng viết một bài." Vương Xương Linh tuổi cao, đặc biệt có tình cảm với trẻ nhỏ, vuốt râu cười khà khà: "Tốt tốt tốt, ngâm lên cho chư hiền cùng nghe nào." Bên kia, Hàn Hội quay đầu trừng mắt lườm Hàn Dũ một cái, nhưng Hàn Dũ đã lững thững bước ra giữa sân, chắp tay hành lễ ra dáng ra bộ. "Lúc tiểu tử tới đây, bắt gặp trên cầu Văn Đức có một đôi uyên ương sắp phải chia lìa, nghe bọn họ sụt sùi dốc bầu tâm sự, nhất thời tức cảnh sinh tình, làm một bài thơ." Nói xong, Hàn Dũ liền cất giọng ngâm nga. "Thanh thanh thủy trung bồ, Hạ hữu nhất song ngư." "Quân kim thượng Lũng khứ, Ngã tại dữ thùy cư?" (Lau sậy xanh xanh mọc dưới nước, Bên dưới có một đôi cá bơi. Nay chàng lên đường đi Lũng Tây, Thiếp ở lại chốn này sống với ai?) Một bài thơ vừa dứt, khiến không ít văn nhân trong đường phải xấu hổ tát mồ hôi vì tự thấy mình không bằng một đứa trẻ lên bảy. Vương Xương Linh gật đầu lia lịa, buông lời tán thưởng khích lệ Hàn Dũ. Lúc bấy giờ đôi nam nữ trên cầu vẫn chưa đi xa, liền có kẻ lắm chuyện chạy theo gọi họ lại, đem bài tiểu thi của Hàn Dũ tặng cho họ, rồi dẫn họ vào sảnh đường nói lời tạ ơn. Đỗ Hữu Lân liền dò hỏi nguyên cớ vì sao bọn họ phải chia lìa, cô gái thút thít bảo phụ mẫu nhà nàng chê bai gia cảnh đằng trai bần hàn, cấm cản hôn sự, nên chàng trai mới quyết chí lên Trường An buôn bán mưu sinh. "Lại còn cái tư tưởng môn đăng hộ đối này nữa sao?" Đỗ Hữu Lân lắc đầu cảm khái, bảo cô gái: "Ngươi gọi gia nương tới đây, lão phu ra mặt nói chuyện với bọn họ thay ngươi." Ông vốn là một kẻ cổ hủ câu nệ lễ giáo, có thể thốt ra lời này, là bởi những năm gần đây quan niệm của thế nhân đã dần xoay chuyển, bắt đầu xuất hiện những luồng tư tưởng đập bỏ ranh giới giai cấp. "Đỗ công thong thả, chỉ e ép uổng quá củ dưa cũng chẳng ngọt." Thôi Động lên tiếng nhắc nhở. Đám đông đang thầm nhủ tên công tử thế gia này quả nhiên là coi khinh đám con em bần hàn, hắn lại tiếp lời: "Cái gọi là cho con cá, không bằng cho cần câu. Ta thấy trang sức trên người tiểu nương tử này chất liệu không tầm thường, ắt hẳn xuất thân cao môn, lệnh tôn thiết nghĩ sẽ chẳng thèm để mắt tới phường buôn thúng bán bưng, tiểu lang quân này nếu muốn xứng lứa vừa đôi với thiên kim thế gia, ta vạch cho ngươi hai con đường, một là đi theo ta theo nghiệp viễn dương, hai là lặn lội tới An Tây tòng quân, nội trong ba năm năm muốn an thân lập nghiệp chẳng phải chuyện khó." Đôi nam nữ kia nào có hiểu được sức nặng ngàn vàng trong lời nói của hắn, vẫn cứ sụt sùi rơi lệ, không biết phải chọn bề nào, ngược lại là Diêu Nhữ Năng phải cất tiếng nhắc nhở: "Còn không mau tạ ơn Thôi công." Diêu Nhữ Năng thấu tỏ đây là một thời đại ngập tràn cơ hội, để một kẻ xuất thân bần hàn có thể trong vài năm ngắn ngủi nhảy vọt lên sánh ngang với cao môn quý tộc, chuyện này nếu đặt vào thời xưa, Thôi Động có cạy miệng cũng chẳng thèm hé răng nửa lời. Chủ biên của tờ《Tân Tư Báo》lại rất có tiếng nói trong giới nam nữ thanh niên dân gian, chàng trai kia lúc này mới vội vã van nài được đi theo Thôi Động, rồi cùng cô gái dập đầu thiên ân vạn tạ lui xuống. Chuyện này cũng coi như là điểm xuyết thêm một giai thoại nho nhỏ cho bài thơ của Hàn Dũ. Những phần tiếp theo của văn hội tuy cũng ra đời được dăm ba bài thơ truyền thế, nhưng rốt cuộc vẫn không khỏa lấp nổi sự tiếc nuối do Lý Bạch vắng mặt. Thế là Diêu Nhữ Năng điềm nhiên móc từ trong ngực ra hai tờ giấy, hắng giọng: "Vậy thì ta xin phép ngâm bài thơ mà Cố Viêm Vũ tiên sinh gửi cho tệ san." "Hảo." Cả sảnh đường tức thì im phăng phắc, ai nấy đều muốn nghe xem cái vị Cố tiên sinh trước nay chỉ rặt bàn chuyện quốc sự kia có thể nặn ra được áng thơ thế nào. Lúc này trời đã chạng vạng, Diêu Nhữ Năng ngoảnh đầu nhìn ra, chẳng biết từ khi nào tà dương đã trải một lớp vầng hào quang vàng rực ngoài bậu cửa. Hắn nhịp nhàng ngâm vang bài thơ. "Chu Tước kiều biên dã thảo hoa, Ô Y hạng khẩu tịch dương tà." "Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến, Phi nhập tầm thường bách tính gia." (Bên cầu Chu Tước cỏ hoa mọc rêu phong, Cửa ngõ Ô Y bóng chiều tà ngả xế. Chim én trước thềm nhà Vương Tạ thuở nào, Nay đã bay vào nhà bá tánh tầm thường rồi.) Chỉ với dăm ba nét phác thảo đã vẽ nên bầu không khí hiu hắt của buổi hoàng hôn ngày thu, đây là một bài thơ giấu sự sắc sảo vào trong, cực kỳ đậm đà dư vị, không ít người lập tức ngộ ra cái sự bi thương dâu bể của thói đời vinh hoa phú quý mây khói thoảng qua. Lại liên tưởng tới thái độ đối với thế gia đại tộc trong những bài viết trước đây của Cố tiên sinh, liền có thể cảm nhận được sự suy tàn của các thế gia trước bánh xe biến thiên của thời đại. Thôi Động như đang đăm chiêu suy nghĩ. Hắn hiện nay tuy là cự phú, nhưng lại từng tận mắt chứng kiến cảnh tượng cả một gia tộc tan đàn xẻ nghé, mà ngoại trừ Thôi gia, số lượng cao môn thế gia lụn bại vì biến pháp trong những năm qua đếm không xuể. Bị cuốn vào dòng nước xiết, hắn càng thấm thía hơn ai hết việc xu thế thời đại là thứ mà cá nhân đơn lẻ không thể nào cưỡng lại nổi. "Chim én trước thềm nhà Vương Tạ thuở nào." Thôi Động cảm khái, tự thương xót cho thân thế của mình. Bên kia, Lưu Vũ Tích mới lên ba ngẩng đầu lên. Hắn nghe mọi người đều đang lẩm nhẩm bài thơ này, chẳng kiềm được cái miệng cũng hùa theo xướng họa. "Tiểu yến tử, xuyên hoa y, niên niên xuân thiên lai giá lý (Én nhỏ ơi, mặc áo hoa, năm nào mùa xuân cũng về đây…)." Đây là bài đồng dao đã lưu truyền từ mấy năm trước, Bạch Cư Dị cũng thuộc lòng, không nhịn được cũng ư ử hót theo hai câu. Thôi Động nghe tiếng hát, trong đầu xẹt qua một ý niệm. Cái văn phong của vị Cố Viêm Vũ bí ẩn kia kỳ thực luôn mang lại cho hắn cảm giác vô cùng quen thuộc, lại còn biết làm thơ. "Cố tiên sinh lẽ nào dùng hóa danh, văn chương thi phú của người và bệ hạ..." Vì quá đỗi kích động, Thôi Động chẳng kiềm chế nổi mà buột miệng hỏi toáng lên. Lời mới trào ra khỏi miệng được một nửa, hắn sực nhận ra có biến, vội vàng cắn chặt răng lại. Thế nhưng mọi người đều đã nghe rành rọt, lại còn có khối kẻ cũng mập mờ đoán ra chân tướng như hắn, tức thì thảy đều lặng người. Luận về trình độ thi văn, e rằng đương kim thiên tử mới là đệ nhất nhân của Đại Đường. Chỉ là thiên tử đã lơi bút từ lâu, không ngờ tới lại tham dự vào văn hội hôm nay bằng một thân phận như vậy. Sự nuối tiếc vì Lý Bạch vắng mặt lúc này mới được lấp đầy, đám văn nhân mặc khách ai nấy đều cảm thán chuyến này đi quả không uổng phí. Buổi văn hội rốt cuộc cũng đến hồi tàn. Chuyện nhi đồng bảy tuổi múa bút thành thơ hóa thành giai thoại, lại thêm phong thư ngàn dặm của Cố tiên sinh — người được cho là hóa thân của đương kim Thiên tử — thuật lại những thăng trầm của thế gian, cũng chỉ như tô điểm thêm một nét son vào bức tranh văn hiến rạng ngời của Đại Đường mà thôi. Bất chợt, có người lên tiếng hỏi: "Diêu công, ngài lấy ra hai bản thảo, vậy tờ còn lại là gì?" Đám đông đang nhấp nhổm định giải tán kéo nhau tới Bão Nguyệt lâu dự yến tiệc liền khựng lại, dồn ánh mắt đầy mong đợi về phía Diêu Nhữ Năng. "Còn thơ nữa sao?" "Là thơ gì vậy? Diêu công mau đọc lên đi!" Diêu Nhữ Năng đành xua tay, đáp: "Đây không phải thơ, là một thực đơn mà Đường Mậu tiên sinh gửi cho tệ san." "《Tân Tư Báo》lại còn đăng cả thực đơn sao, trước nay chưa từng thấy." "Từ nay về sau sẽ có, triều đình khuyến khích trồng giống cây mới, nhưng mớ rau củ quả này ăn thế nào, chế biến ra sao cho ngon, lại là cả một bầu trời tri thức. Đường Mậu tiên sinh có thể coi là đệ nhất nhân trong lĩnh vực này, hôm nay ta không chỉ mang thực đơn tới, mà còn nhờ Thôi công chuẩn bị sẵn nguyên liệu, trong buổi yến tiệc lát nữa, chư vị đều có thể nếm thử." "Hảo! Thơ hay rượu quý lại thêm món lạ, chúng ta hôm nay có lộc ăn rồi." "..." Trường Giang mênh mông bát ngát, bóng tà dương rắc lên những lớp sóng xô từng vệt hoàng kim lấp lánh, tráng lệ muôn phần. Một chiếc thuyền con mặc cho dòng nước trôi dạt. Lý Bạch xõa tóc dài, đứng trên mạn thuyền nốc rượu, mặc cho gió thổi vạt áo bay phấp phới. Y đã có ba phần say xỉn, tựa hồ như muốn hòa làm một thể với đất trời. Trên mặt sông cách đó không xa, chốc chốc lại thấy cá heo trắng nhảy vọt lên khỏi mặt nước, giống như những người bằng hữu của y vậy. "Thái Bạch tiên sinh!" Phía sau bỗng có một chiếc thuyền nhỏ xé sóng lướt tới, người trên thuyền gân cổ gào thét liên hồi, phá bĩnh nhã hứng của Lý Bạch. "Thái Bạch tiên sinh, sắc trời đã muộn, văn hội cũng vãn tuồng rồi, A lang mời ngài tới Bão Nguyệt lâu dự tiệc." "Không đi, không đi." Lý Bạch mang theo men say xua tay, ung dung thong thả đáp: "Ta thà cùng cá heo vớt trăng còn hơn." "Nhưng yến tiệc đêm nay có món mới của Đường Mậu tiên sinh." "Ồ? Đường Mậu? Là vị tạp gia Đường Mậu hay viết bài trên báo đó sao?" Lý Bạch tức thì hứng thú, lúc này mới chịu cho đối phương cập thuyền vào mạn. Y tự nhiên cũng đọc báo, biết rõ có một người dùng hóa danh "Đường Mậu" thỉnh thoảng lại gửi vài bài viết lách, đủ mọi thể loại tạp nham, lúc thì luận bàn cách làm cho gà đẻ nhiều trứng hơn, khi thì nghiên cứu cách hô biến trứng gà có vị như thịt cua, đôi khi lại bô lô ba la dăm ba thứ lý luận hoang đường ly kinh phản đạo. Lý Bạch lại cảm thấy người này cực kỳ tinh tế cao tay, lại vung bút tiêu sái, không trói buộc mình vào quy củ, là người mà y rất muốn kết giao. "Đường Mậu tiên sinh tuy không tới, nhưng có gửi thực đơn, có mấy món mới tinh, lẩu xào cay, cá lóc phi lê nhúng sa tế, khoai tây kho tộ..." "Đi!" Lý Bạch tiêu sái vung tay áo một cái, dứt khoát nhận lời đi phó yến. Đợi đến lúc tới Bão Nguyệt lâu, mọi người nghe tin hắn tới, đều mừng rỡ như điên. Vương Xương Linh tự thấy mình đã gần đất xa trời, bằng hữu gặp mặt được lần nào hay lần nấy, nghe tin Lý Bạch rốt cuộc cũng chịu mò tới, vuốt râu mỉm cười đầy mãn nguyện; Hàn Dũ càng mắt sáng như sao, ánh nhìn khóa chặt lấy Lý Bạch không nỡ rời đi nửa tấc; ngay cả bọn nhãi ranh Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích cũng biết tỏng đại danh của Thi tiên, cứ ê a í ới "Là Thi tiên đấy". Lý Bạch trước tiên chào hỏi Vương Xương Linh, sau đó mới quay sang thi lễ với Đỗ Hữu Lân. Trước kia y cũng từng quen thói nịnh bợ quyền quý, nay quan lớn trọng thần cũng đã trải qua rồi, ngoái đầu nhìn lại mớ dĩ vãng ấy, bỗng nảy sinh cái cảm giác "Thuyền nhẹ đã vượt muôn trùng non". Lúc này đây đứng trước một vị Tể tướng công thành thân thoái như Đỗ Hữu Lân, Lý Bạch thế mà lại thẳng tính buông lời: "Đỗ công viết tập chú thi từ cho bệ hạ, chỉ tiếc chưa lãnh hội được ý cảnh trong thơ của bệ hạ a." Đỗ Hữu Lân sượng sùng cứng đờ, thể diện nháy mắt rớt xuống vực sâu. Kẻ khác nói thế thì cũng thôi đi, nhưng Lý Bạch lại được xem là người hiểu thi từ của thiên tử nhất. Bầu không khí bất giác trở nên sượng sùng. "Đỗ công học vấn cao thâm, là Thái Bạch tiên sinh yêu cầu quá khắt khe rồi." Thôi Động ném ra một câu hóa giải lúng túng, lại hỏi: "Thái Bạch tiên sinh có biết Đường Mậu tiên sinh là ai không?" "Nga?" Lý Bạch nghe vậy, liếc xéo Đỗ Hữu Lân một cái, không cho rằng ông có đủ cái tầm hiểu biết đó. Thôi Động giải thích: "Nếu ta đoán không lầm, 'Đường' chỉ 'Đỗ', 'Mậu' là ngôi thứ năm trong thiên can, 'Đường Mậu' ghép lại chính là 'Đỗ Ngũ', ắt hẳn là Ngũ lang nhà họ Đỗ rồi." Đỗ Hữu Lân tuy không thèm đọc《Tân Tư Báo》, nhưng luôn ghim chặt cái nhãn Đỗ Ngũ lang là đồ vô dụng lười biếng, làm sao có chuyện gửi bài trên báo được, bèn phất phất tay, toan phủ nhận. "Thế mà lại thật sự là Đỗ Ngũ lang sao?" Lý Bạch đã phì cười thành tiếng, nói: "Nghĩ lại cũng phải, chỉ có Ngũ lang mới đủ tầm trở thành bậc tạp học đại sư thế này thôi." Vương Xương Linh cũng gật gù liên hồi, cảm khái: "Không bị quan trường trói buộc, một lòng chuyên tâm nghiên cứu học vấn, Đỗ Ngũ lang quả thực hoàn toàn xứng đáng với bốn chữ 'Tạp học đại gia' mà Thái Bạch phong tặng." Lý Bạch chép miệng: "Cả đời ta chí hướng khuông phù thiên hạ, tiếc thay chỉ lưu lại được dăm ba áng thơ văn, chủ trì được vài kỳ khoa cử, luận về lợi ích thực sự mang lại cho bá tánh, còn kém xa Đỗ Ngũ lang." Đỗ Hữu Lân chẳng thể ngờ tới Lý Bạch lại đưa ra lời bình phẩm cao ngất ngưởng nhường ấy, kinh ngạc đến rớt cằm, vội vàng bào chữa: "Thái Bạch quá khiêm tốn rồi." Thôi Động cười sảng khoái, vẫy tay gọi mọi người: "Chư vị nếm thử mấy món mới của Đường Mậu tiên sinh xem..." Chỉ duy nhất Đỗ Hữu Lân là vẫn trân trân nhìn cảnh tiệc tùng linh đình trước mắt, cảm thấy vô cùng khó tin. Ông nằm mơ cũng không ngờ tới, cái thằng Đỗ Ngũ lang thiên tư kém cỏi, lười biếng chẳng có lòng cầu tiến, ngược lại lại trở thành người có tiền đồ nhất trong đám tử đệ Đỗ gia. ~~ Năm Chính Hưng thứ hai mươi bảy, năm Bính Dần. Hiện nay thiên hạ có hai vị "Đỗ công" uy vọng nhất, một là Đỗ Phủ, dùng sức lực của một người vực dậy học chính Hà Bắc, gần hai mươi năm nay lượng Tiến sĩ, Cử nhân ở Hà Bắc phần lớn đều xuất môn từ chỗ ông, được người đời xưng tụng là "Đỗ Phạm Dương", "Đỗ Văn công"; người còn lại chính là Đỗ Ngũ lang, vì sống nhàn tản ở Thiếu Lăng Nguyên, liền tự đặt hiệu là "Thiếu Lăng Dã Lão", thế gian gọi là "Đỗ Phàn Xuyên", "Đường Mậu tiên sinh". "Hắt xì." Hôm đó, Đỗ Ngũ lang hắt hơi một cái rõ to, đang thầm nhủ ai lại rảnh rỗi lôi mình ra niệm tới niệm lui đây, liền hay tin Lý Tộ cùng Đỗ Tinh dắt díu đám trẻ con lại về Thiếu Lăng Nguyên rồi. Thấy con gái cùng đám ngoại tôn, Đỗ Ngũ lang mừng như bắt được vàng, hì hục ra vườn hái rau củ quả tươi rói, lại xoắn tay áo làm thêm vài món mới. Vừa an tọa, Lý Tộ đã tạt một gáo nước lạnh. "Trượng ông, Cao Tiên Chi dâng biểu, xin thảo phạt Đại Thực, để chấn nhiếp chư quốc Tây Vực, ép bọn họ phải cô lập Thổ Phồn. Trận chiến này, ta muốn đích thân tới An Tây quải soái..." (quải: nắm ấn) "Không được." Đỗ Ngũ lang không đợi Lý Tộ dứt lời đã lắc đầu phản đối, gắt: "Trận này, Cao Tiên Chi tự nhiên thừa sức đánh, cần gì ngươi phải đến đó khoa tay múa chân." Từ nhiều năm trước, Tiết Bạch đã lập xưởng quân giới mới ở An Tây, chế tạo hỏa khí, sau đó lại ra sức phát triển quân đồn điền ở An Tây, cho sĩ tốt trồng trọt các loại hoa màu sản lượng cao, qua chuỗi hành động này, kẻ tinh ý đã sớm ngửi thấy mùi chiến tranh Tây chinh sớm muộn gì cũng nổ ra. Hiện tại, công tác trù bị đã đơm hoa kết trái, quốc lực Đại Đường cực thịnh, lương thảo dồi dào, binh cường mã tráng, chính là thời cơ vàng để dụng binh Tây Vực. Thế nhưng Đỗ Ngũ lang lại chẳng lường trước được việc Thái tử phải tự thân xuất mã làm thống soái. Lý Tộ nói: "Ta tự nhiên sẽ không can thiệp vào cách cầm quân của Cao Tiên Chi, quải soái một là để rèn giũa bản thân, hai là để biểu dương quyết tâm ủng hộ Tây chinh của phụ hoàng cho tướng sĩ rõ, giúp Cao Tiên Chi không bị vướng bận." "Ngươi đã là Thái tử, lẽ nào còn thiếu chút quân công cỏn con này?" Đỗ Ngũ lang vặn lại, "Đây là chủ ý của ngươi hay của Lý Bí?" "Là sự sắp đặt của phụ hoàng." Lý Tộ đáp. Đỗ Ngũ lang nghe xong, liền im bặt. Tiết Bạch kể từ lúc bước lên ngai vàng, từng lấy ý chí của một người chống lại ý chí của thiên hạ, chuyện mà y đã quyết định, há lại là thứ mà Đỗ Ngũ lang có thể lên tiếng phản đối. "A gia, người cứ ủng hộ Điện hạ đi." Đỗ Tinh mở lời, nghe có vẻ giống như đang kiếm bậc thang cho Đỗ Ngũ lang leo xuống hơn. Bọn họ tới đây, vốn dĩ đâu phải để xin phép, mà chỉ đơn thuần là thông báo một tiếng. Hôm sau, đợi lúc Lý Tộ và Đỗ Tinh quay về, Đỗ Ngũ lang đắn đo tới lui, rốt cuộc vẫn quyết định đích thân tới Trường An cầu kiến. Đây là lần đầu tiên hắn đặt chân về lại Đại Minh cung kể từ lúc quy ẩn. Đại Minh cung chẳng có gì thay đổi, vẫn giữ nguyên cái dáng vẻ nguy nga đồ sộ năm xưa. Thế nhưng lúc Đỗ Ngũ lang bước vào Tuyên Chính điện, câu nói đầu tiên sau khi hành lễ lại là: "Cái gọi là nước máy, bồn cầu mà bệ hạ từng nhắc năm xưa, nhà ta ở Thiếu Lăng Nguyên đã trang bị đủ cả rồi, trong cung thành thế mà lại chưa có." Tiết Bạch lườm Đỗ Ngũ lang một cái sắc lẹm, bất ngờ nhận ra khí sắc hắn ngày một nhuận nhã, bèn đáp: "Dạo này bảo dưỡng sức khỏe không tệ nhỉ." "Lúc rảnh rỗi múa vài bài Bát Đoạn Cẩm mà bệ hạ truyền thụ thôi." "Ngươi tới đây là vì chuyện Thái tử quải soái đi Tây chinh sao?" "Bệ hạ sao lại biết?" Đỗ Ngũ lang giả bộ kinh ngạc, "Quả là thần cơ diệu toán." Hắn cố ý vuốt đuôi nịnh hót vài câu, nhưng lại chẳng mấy tập trung, nghe cực kỳ miễn cưỡng. Tiết Bạch cũng không thèm chấp nhặt, điềm nhiên cất lời: "Ngoài chuyện đó ra, còn có chuyện gì có thể khiến ngươi đích thân tới cầu kiến? Chuyện này ngươi không cần nhiều lời, nó nếu ngay cả trận chiến này cũng không gánh nổi, trẫm làm sao có thể yên tâm giao phó thiên hạ cho nó?" Đỗ Ngũ lang thở dài: "Bệ hạ làm vậy, quần thần lại sắp nháo nhào bất an rồi." "Bất an thì cứ bất an." Tiết Bạch chưa bao giờ chùn bước trước gian nan và sự cản trở, "Sinh vu ưu hoạn, tử vu an lạc (Sống trong hoạn nạn, chết trong yên bình)." Đỗ Ngũ lang chẳng biết làm thế nào mới khuyên hắn rút lại thánh lệnh, nét mặt bất giác trầm xuống, trong lòng vô cùng ân hận vì đã gả con gái vào Đông Cung. Cái lời sấm truyền Đỗ gia không nặn ra được Hoàng hậu lại lảng vảng trong tâm trí, hắn cứ nơm nớp lo sợ lỡ như Lý Tộ gặp chuyện gì bất trắc ở Tây Vực, Đỗ gia e là lại bị cuốn vào vòng bất hạnh thêm lần nữa. "Con cái lớn rồi, rốt cuộc cũng phải buông tay." Tiết Bạch dường như nhìn thấu sự âu lo của Đỗ Ngũ lang, nói: "Trẫm nếu đã đồng ý cho Thái tử rước A Cô nhà ngươi, chính là thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối vào nó... Đợi nó từ Tây Vực khải hoàn, trẫm định sẽ bắt đầu giao phó thiên hạ lại cho nó." "Bệ hạ?" Đỗ Ngũ lang vô cùng kinh hãi. Trong ấn tượng của hắn, Tiết Bạch là kẻ luôn tiến lên phía trước, miệt mài không biết mệt mỏi thâu tóm và thao túng quyền lực, sao lại có thể nảy sinh ra cái loại suy nghĩ này. Đợi đến khi hắn ngước mắt lên, nhìn thấy mái tóc điểm sương của Tiết Bạch, mới sực nhận ra thời gian thoi đưa, bọn họ đều đã già rồi. "Trẫm không yên tâm để lại giang sơn này cho một vị Thái tử chưa từng có kinh nghiệm trị quốc sau khi buông tay quy tiên, thà rằng để xem nó liệu có thể kế thừa được chí hướng của trẫm hay không, nếu nó không phụ sự kỳ vọng của trẫm... Thực ra bao năm nay, trẫm cũng ngưỡng mộ cuộc sống của ngươi lắm." Vừa nói, trong đôi mắt sâu thẳm của Tiết Bạch rốt cuộc cũng ánh lên ý cười. Nụ cười ấy, dường như đã vẽ ra viễn cảnh ngày y trút bỏ gánh nặng ngàn cân trên vai. Thế nhưng cuộc chiến ở Tây Vực ấy kéo dài đằng đẵng ròng rã bốn năm trời. Đợi đến lúc Lý Tộ khải hoàn hồi triều, đã là chuyện sau năm Chính Hưng thứ ba mươi mốt rồi... ~~ Cánh cửa tủ bật mở, một bộ đạo bào được gấp ghém gọn gàng đặt vuông vức dưới cùng. Lão giả râu tóc bạc phơ nhìn thấy nó, khẽ sững người, cúi xuống, dùng đôi bàn tay khô ráp vuốt ve lớp vải sờn cũ kỹ đến thẫn thờ, mãi đến khi có người lên tiếng gọi từ phía sau. "Hữu tướng." Lý Bí ngoảnh đầu, thấy Nhàn Vân bước tới, vị tiểu đạo đồng năm xưa nay đã thành một gã trung niên râu ria lún phún. Hắn khẽ nheo mắt, nhớ lại Nhàn Vân cũng ngót nghét hơn hai mươi năm chưa từng gọi hắn là "Đạo trưởng" nữa rồi. "Lão phu đang tìm lễ phục." "Biết hôm nay Hữu tướng phải nghênh đón Điện hạ hồi kinh, hôm qua tiểu nhân đã đem lễ phục đi phơi rồi." "Ừm." Lý Bí nán lại nhìn bộ đạo bào thêm một cái, khép cửa tủ, bước ra khỏi căn phòng chứa tạp vật. "Đi thôi, đi diện kiến Điện hạ..." Bên ngoài Trường An, xe ngựa tấp nập như trẩy hội. Đám đông bách tính tụ tập xem đoàn quân hiến tù đông đến mức nhét không lọt một giọt nước trên con đường rộng thênh thang. Tiếng người huyên náo sục sôi, ai nấy đều rôm rả bàn tán về chiến sự ở Tây Vực. Cách biệt bao năm trời, lão tướng Cao Tiên Chi lại một lần nữa thống lĩnh đại quân nghênh chiến với quân Đại Thực tại Đát La Tư, lần này, quân Đường với thế chẻ tre nghiền nát, đập tan đội tiên phong của Đại Thực, sau đó thiết kỵ tiến thẳng vào trong, binh phong chỉ thẳng tới Ba Cách Đạt (Baghdad). Hai chữ "nghiền nát" nằm chình ình trên chiến báo của Cao Tiên Chi, nếu không phải là thắng lợi mang tính áp đảo tuyệt đối, nghĩ bụng lão cũng chẳng đến mức phải dùng cái từ ngữ thiếu khiêm tốn bực này. Trải qua trận này, chư quốc Tây Vực chấn động, thi nhau quy phụ, Đại Đường mở mang bờ cõi thêm hàng ngàn dặm. Điều này cũng tác động mãnh liệt đến thế cục giữa Đại Đường và Thổ Phồn, tấu chiết từ Xuyên Tây cũng đã bay về, cho rằng Đại Đường tiếp theo nên trực tiếp thôn tính Thổ Phồn, đồng thời đề xuất sách lược "Vừa đánh vừa đàm". Lần này đại quân khải hoàn hiến tù, đội ngũ sứ thần tới triều bái thiên tử dài dằng dặc không dứt. "Vạn thắng!" Giữa tiếng tung hô rền vang, đoàn người hiến tù chầm chậm tiến tới ngoại ô Trường An. Sóng vai đi trước chính là Lý Tộ và Cao Tiên Chi. Khuôn mặt vốn dĩ anh tuấn của Lý Tộ nay trở nên đen sạm, gò má trái vắt ngang một vết sẹo dài, thế nhưng ánh mắt lại càng thêm trầm ổn, sắc sảo. Cao Tiên Chi thì râu tóc đã bạc phơ, khuôn mặt tuấn tú thuở thanh xuân đã sớm bị hủy hoại từ trận chiến Đồng Quan năm xưa. Lão ngẩng đầu ngước nhìn Trường An, hai dòng lệ đục ngầu bất chợt trào ra khỏi hốc mắt đỏ hoe, lăn dài trên vết sẹo gồ ghề nhấp nhô. Năm xưa nhẫn nhục chịu đựng, mai danh ẩn tích, lão nào phải vì tiếc cái mạng quèn mới để đám sĩ tốt dưới trướng chịu chết thay mình, mà là vì nung nấu ý định rửa sạch nỗi nhục, khôi phục lại vinh quang thuở nào. Và sau khi lão biến thành Trương Quang Thịnh, là hơn ba mươi năm cắn răng bền bỉ, xông pha mấy vạn dặm sa trường khói lửa đao kiếm, hết thảy đều chỉ vì chứng minh một bầu máu nóng trung quân ái quốc năm nào. Lão đã hoàn thành tâm nguyện. Đến lúc đội ngũ dừng chân trước Đại Minh cung, vị dũng tướng oai hùng vô địch ngày xưa, thế mà lại lẩy bẩy đến mức phải nhờ Lý Tộ dìu mới xuống ngựa nổi. "Bệ hạ." Cao Tiên Chi vừa giáp mặt Tiết Bạch xa cách bao năm, chân run rẩy, suýt chút nữa ngã quỵ. Tiết Bạch vội bước tới đỡ lấy lão. Bốn bàn tay siết chặt, môi Cao Tiên Chi run lẩy bẩy, không phải để bẩm báo quân công, mà là từ trong bi thương trào dâng, nghẹn ngào khóc rống: "Lão thần lần này về kinh, chẳng thể quay lại An Tây được nữa." Lão đã già rồi, lần này rời khỏi Tây Vực mênh mông, đã chuẩn bị sẵn tinh thần vùi xác chốn Trường An này. Mà sau lưng Tiết Bạch, Lý Bí và quần thần đều đang dồn sự chú ý vào Lý Tộ, ánh mắt ánh lên sự tự hào khôn xiết. "Tùng! Tùng!" Tiếng trống nhạc nổi lên. Tiết Bạch buông tay Cao Tiên Chi, bước lên lầu thành Đan Phượng môn. Hắn chứng kiến tướng sĩ Đại Đường khí thế ngút trời, chứng kiến một trăm lẻ tám phường xếp hàng chỉnh tề vuông vức, chứng kiến Trường An nghiễm nhiên trở thành trung tâm của cả thế giới. Đám sứ thần cùng tù binh xếp hàng quỳ lạy, tung hô vạn tuế. Nhưng thứ mà Tiết Bạch nghe được chẳng phải là hai chữ "Vạn tuế", mà là âm thanh của Trường An tựa như trái tim của một đất nước hùng cường, đang nhịp nhàng đập vang đanh thép. "Cửu thiên xương hạp khai cung điện, Vạn quốc y quan bái miện lưu." ~~ Mắt Lý Tộ vằn lên vô số tia máu. Những buổi đại điển hoành tráng nối tiếp nhau khiến hắn phấn khích đến độ chẳng màng giấc ngủ, vội vã qua loa thăm thê tử cùng hài nhi xong, lập tức tức tốc chạy tới Chính Sự đường hội kiến đám trọng thần Lý Bí, Trương Tuần, Thôi Hữu Phủ, Nguyên Kết. "Điện hạ." Lý Bí hiếm khi nào thất thố, lần này lại bước tới nhìn Lý Tộ chằm chằm, ân cần hỏi: "Mọi việc đều ổn thỏa cả chứ?" "Tiên sinh yên tâm, học trò vẫn rất ổn." Lý Tộ đáp: "Học trò đã vượt qua được bão cát của Tây Vực rồi." "Tốt, tốt lắm." Lý Bí gật gù, "Cao Tiên Chi đã già, trận này Điện hạ tuyệt đối không thuần túy ỷ lại vào lão, thần dân đều nhìn thấu tỏ." Lý Tộ vô cùng khiêm tốn: "Ta đâu dám tranh công." Lý Bí gật đầu, quay sang, trao đổi một ánh mắt với Trương Tuần, tỏ ra khá căng thẳng. Tiếp đó, hắn mới dán chặt mắt vào Lý Tộ, dò hỏi: "Điện hạ bằng lòng thay bệ hạ tế cáo Thái miếu chứ?" Lý Tộ sững sờ, ngập ngừng: "Ta nào dám..." "Bệ hạ ân chuẩn rồi." Đáy mắt Lý Bí ngập tràn sự trông đợi, hỏi dồn: "Điện hạ bằng lòng tới tế cáo liệt tổ liệt tông Đại Đường chứ?" Chuyện này mang hàm ý cực kỳ sâu xa. Tiết Bạch không lấy thân phận con cháu họ Lý để tự xưng, từ trước tới nay đều không đếm xỉa tới việc cúng tế Thái miếu. Nay chịu nhả lời cho phép Thái tử thay mặt tế tự, một mặt là đã nhen nhóm ý định nhường ngôi, mặt khác cũng là ngầm chấp thuận để Lý Tộ tôn thờ các vị hoàng đế Lý Đường làm tiên tổ. Có lẽ sẽ có vài kẻ tường tận nội tình lầm tưởng đây là công lao nhờ cái tên do Lý Long Cơ ban tặng năm xưa, nhưng những người thực sự thấu hiểu Tiết Bạch mới tỏ tường, đây chính là tâm huyết đổ ra suốt mấy chục năm trời của những bậc trọng thần dốc lòng vì xã tắc lê dân như Nhan Chân Khanh, Lý Bí. "Được." Lý Tộ gật đầu. Lý Bí trút ra một hơi thở phào nhẹ nhõm, mỉm cười đầy mãn nguyện, phân phó quan lại khẩn trương chuẩn bị nghi lễ tế tự. Lúc chỉ có hai người, Lý Tộ thủ thỉ: "Ta ở Tây Vực, đã gặp được cô cô." "Ý Điện hạ là... Hòa Chính Quận chúa?" "Phải, ta nghe đồn Nữ vương của một tiểu quốc Tây Vực từng là công chúa Đại Đường, liền lân la dò hỏi Phong tướng quân chuyện này, Phong tướng quân đã thuật lại tất thảy cho ta nghe, phụ hoàng đối đãi với tông thất vẫn bao dung lắm, người cũng không hề nuốt lời hứa với Phong tướng quân." Lý Tộ trải lòng: "Phụ hoàng chưa từng ôm mộng soán đoạt cơ nghiệp Lý Đường, người trước sau chỉ muốn Đại Đường mãi mãi hùng cường cường thịnh mà thôi." Lý Bí cảm nhận được Lý Tộ đã lờ mờ nhận ra Tiết Bạch căn bản không phải con cháu họ Lý, bất giác nảy sinh sự lo lắng Lý Tộ sẽ rũ bỏ họ Lý, mãi đến khi Lý Tộ bắt đầu tế cáo Thái miếu, chắp tay xưng "tử tôn" trước bài vị của các bậc tiên đế, hắn mới hoàn toàn trút được tảng đá đè nặng trong lòng. Sự quy thuộc mà hắn cất công gieo cấy trong tâm trí Lý Tộ bao năm qua sẽ không dễ dàng tan biến nhường vậy. ~~ "Trẫm nếu đem hoàng vị truyền lại cho Thái tử, Trường Nguyên huynh sẽ không cần phải sầu lo thắc thỏm nữa đúng không?" Sang năm sau, trong một buổi tấu đối thường nhật tại Tuyên Chính điện, Tiết Bạch bất chợt ném về phía Lý Bí một câu hỏi. Lý Bí sững sờ, trong bụng thừa biết câu này mà trả lời, thì chính là tử tội "Vọng xưng đồ sấm, kết đảng Đông Cung, mạo phạm ngự giá", vội vàng đứng bật dậy chối phăng. "Mạn phép hỏi bệ hạ, là kẻ nào to gan bôi nhọ thần?" "Không ai hãm hại ngươi cả." Tiết Bạch điềm nhiên nói, "Trẫm là thực lòng có ý thoái vị." Lý Bí ngụp lặn trong chốn quan trường cả một đời, tự nhiên không đời nào tin, hoàn toàn không dám lộ ra nửa điểm dấu vết muốn phò tá Thái tử. Tiết Bạch lười chẳng muốn móc tâm đấu giác với hắn, cất lời: "Đằng Không Tử luôn muốn tới núi Vương Ốc tu đạo, Hoàng hậu cùng chư vị tần phi cũng chán ngấy cái cảnh lồng son gác tía này rồi, bởi vậy, trẫm định thoái vị tu đạo, di dưỡng thiên niên." Nghe thấy hai chữ "Tu đạo", Lý Bí bỗng chốc đờ đẫn. Hắn rốt cuộc cũng vứt bỏ sự phòng bị, kinh ngạc hỏi: "Tu đạo? Bệ hạ xưa nay chỉ đàm luận 'cách vật trí tri', từ lúc nào lại nảy sinh hứng thú với Đạo gia vậy?" "Sao hả? Chỉ cho phép Lý Trường Nguyên nhà ngươi tu đạo? Danh sơn thiên hạ do nhà ngươi xây lên chắc?" Giọng điệu Tiết Bạch nhàn nhã, nói là muốn đi tu đạo, nghe qua lại càng giống như muốn đi du sơn ngoạn thủy hơn. Hắn vỗ vỗ vai Lý Bí, mỉm cười: "Đúng như lời ngươi từng nói, 'Thỉnh quân khán thủ bách niên sự, Nghiệp tựu biển chu phiếm ngũ hồ', trẫm quyết định tiếp nạp lời can gián này của ngươi." Câu nói đùa này khiến Lý Bí có chút thất thần. Đợi đến khi hắn hoàn hồn lại, Tiết Bạch đã quay lưng bước đi, bóng lưng không còn uy nghiêm và nặng trịch như hơn ba mươi năm qua nữa, mà toát lên thứ phong thái tiêu sái của bậc tiên phong đạo cốt. Chẳng biết tại sao, Lý Bí bỗng dấy lên sự hụt hẫng đến nao lòng. Năm xưa hắn nhận lời phó thác của Nhan Chân Khanh mà xuất sơn, vốn đinh ninh vài tháng là có thể quy ẩn, ai dè, một bước vào triều lại dính chặt lấy cả một đời. Cây hồng năm xưa tự tay vun trồng giữa núi rừng có lẽ nay đã che rợp bóng mát, đài đá ngồi tĩnh tọa có lẽ đã rêu phong phủ kín... thế nhưng hắn chẳng thể quay về ngắm nhìn thêm lần nào nữa. Còn vị hoàng đế từng khuấy đảo phong vân thiên hạ kia, lại rũ áo buông bỏ dễ dàng thế sao? Nhưng bất luận thế nào, Lý Bí rốt cuộc cũng bảo vệ thành công tông miếu Lý Đường. Tiếp bước Nhan Chân Khanh, hắn lại bào mòn thêm hơn ba mươi năm tâm huyết, rốt cuộc cũng bồi dưỡng Lý Tộ trở thành con cháu họ Lý, nâng bước lên ngai vàng. Đây có lẽ chính là đạo mà hắn phải tu trong suốt quãng đời này. ~~ Năm Vĩnh Diên đầu tiên. Lý Bí đứng đầu bá quan, nhìn vị thiên tử họ Lý oai phong lẫm liệt trên ngự tháp, cảm thấy sự hi sinh đánh đổi cả đời mình đều là xứng đáng. Dưới ba mươi năm trị vì của Thái thượng hoàng, Đại Đường đã chạm tới đỉnh cao thịnh thế huy hoàng chưa từng có trong lịch sử. Phía đông, tàu thuyền khổng lồ xuôi ngược trên đại dương bạt ngàn, phía tây, triều đình rục rịch kế hoạch nội trong hai mươi năm xây dựng tuyến đường thẳng tắp nối liền tới Baghdad, trên vùng cương vực trải dài hai vạn dặm này, bá tánh no ấm dư dả, văn hóa rực rỡ, ngày ngày lột xác. Lý Bí mãn nguyện rồi, cũng bắt đầu nảy sinh tâm tư công thành thân thoái. Đợi đến năm Vĩnh Diên thứ hai, triều cục dần đi vào quỹ đạo, hắn nháy mắt cho quan lại dâng thư xin lập Thái tử, tự mình nhốt trong thư phòng viết một phong tấu chiết cáo lão trí sĩ, hôm sau đích thân dâng lên Lý Tộ. Lần diện kiến này, cõi lòng Lý Bí nhẹ tựa lông hồng, trước lúc nhập cung còn đặc biệt dặn dò Nhàn Vân lấy bộ đạo bào ra phơi nắng. Nào ngờ, "Bệ hạ nói cái gì?" Lý Bí hoàn hồn, hỏi: "Cái gì gọi là 'cải chế'?" "Trẫm luôn tự nhủ, thiên hạ không phải là thiên hạ của một người, mà là thiên hạ của người trong thiên hạ, sau này rủi như con cháu bất hiếu, làm sao cai trị nổi cương vực mấy vạn dặm này..." Lý Bí nghe mấy lời này vô cùng quen tai, thừa biết đây là ngôn luận của đám văn nhân trên tờ《Tân Tư Báo》, bất giác nhíu chặt mày. Hắn tốn bao tâm huyết mới khiến đương kim thiên tử chấp nhận thân phận con cháu họ Lý, thế nhưng chẳng ai ngờ chỉ chớp mắt một cái, vị thiên tử họ Lý trẻ tuổi này lại rũ bỏ luôn cả thân phận đế vương của mình. "Bệ hạ!" Lý Bí buộc phải cất cao giọng, ngắt lời luận điệu hoang đường của Lý Tộ. Thanh phong bạch vân tĩnh lặng trong tâm trí hắn khoảnh khắc này bỗng dần trôi xa. Đối với hắn mà nói, cuộc đấu tranh bảo vệ tông miếu Lý Đường, lại một lần nữa bắt đầu. ~~ Gió lướt qua sơn lâm, ông lão với phong thái hiên ngang râu tóc bạc phơ đi một bài quyền dưới tán cây, hô hấp điềm nhiên thu thế, nhón lấy một tờ báo ngả người trên chiếc ghế dựa nhẩn nha đọc. Hắn vẫn luôn để mắt tới chuyện thiên hạ. Nhưng hắn đã ngộ ra rằng thay đổi thế sự không nhất thiết phải dựa vào quyền lực, mà cũng có thể dựa vào tư tưởng. Đây là phương thức ôn hòa nhưng lại vô cùng kiên định, tựa như gieo xuống từng hạt mầm, rồi tĩnh tâm chờ đợi ngày đơm hoa kết trái. Hồi lâu sau, hắn xếp tờ báo lại, thong dong cất bước rời đi. Ống tay áo vung lên, tựa như rải xuống một Đại Đường rực rỡ hoa thải... *(Hết truyện)* _______________ *Hoa (华): Nghĩa là phồn hoa, tinh hoa, rực rỡ (như trong từ tinh hoa, phồn hoa), đồng thời cũng là chữ "Hoa" chỉ dân tộc Hoa Hạ (Trung Hoa). Thải (彩): Nghĩa là sắc màu, ánh sáng huy hoàng (như trong từ sắc thải, phong thải). Hoa Thải (华彩): Là những sắc màu rực rỡ nhất, huy hoàng nhất. Gắn với "Mãn Đường" (Ngập tràn Đại Đường), tựa truyện mang ý nghĩa: Sự huy hoàng, rực rỡ ngập tràn khắp cõi Đại Đường. Trong âm nhạc cổ điển, "Hoa thải" (tiếng Ý: Cadenza) là thuật ngữ dùng để chỉ đoạn độc tấu tự do, phô diễn kỹ thuật điêu luyện và rực rỡ nhất của người nghệ sĩ ngay trước khi bản hòa tấu kết thúc. Tác giả dùng từ này để ám chỉ: Thời đại do Tiết Bạch tự tay nhào nặn chính là bản hòa tấu vĩ đại nhất, và chương kết chính là "khúc Hoa thải" – điểm vút cao rực rỡ nhất của cả một triều đại trước khi khép lại trang sách. *Đỗ gia có Thái tử phi: Bất chấp sự e ngại của Đỗ Ngũ lang về chốn cung đình, Đỗ Hữu Lân đã lấy quyền người cha ép gả Đỗ Tinh (A Cô) cho Thái tử Lý Tộ. Lời nguyền "Đỗ gia không ra được Hoàng hậu" cuối cùng cũng được phá vỡ. *Cú Lừa Cuối Cùng Dành Cho Lý Bí: Tiết Bạch thoái vị: Tiết Bạch chủ động nhường ngôi cho Lý Tộ để đi du sơn ngoạn thủy, tu đạo. Lý Tộ làm lễ tế Thái miếu, chính thức xưng là "con cháu họ Lý", khiến Lý Bí rớt nước mắt nhẹ nhõm vì nghĩ mình dành cả đời cuối cùng đã bảo vệ được giang sơn nhà Đường. Tư tưởng đi trước thời đại: Ngay khi Lý Bí chuẩn bị cáo lão về quê tận hưởng tuổi già vào năm Vĩnh Diên thứ 2, Tân đế Lý Tộ lại dội một gáo nước lạnh: "Thiên hạ không phải là thiên hạ của một người, mà là của người trong thiên hạ..." Lý Tộ đề xuất "cải chế" (thay đổi thể chế chính trị). Lý Bí chết sững khi nhận ra hạt giống tư tưởng dân chủ mà Tiết Bạch gieo rắc qua tờ Tân Tư Báo đã tiêm nhiễm vào cả vị Tân đế nhà họ Lý. Cuộc chiến bảo vệ "hoàng quyền tuyệt đối" của Lý Bí lại phải tiếp tục trong sự bất lực. *Kết Cục Của Tiết Bạch: Ở cảnh cuối cùng, Tiết Bạch nay đã là một ông lão tóc bạc phơ, ung dung tập võ, đọc báo giữa núi rừng. Hắn nhận ra rằng cách thay đổi thế giới tốt nhất không nhất thiết phải dùng đến quyền lực tột đỉnh, mà là dùng tư tưởng — gieo những hạt giống tri thức xuống và tĩnh tâm chờ hoa nở. Một cái kết rải đầy "hoa thải" cho thời đại.
Hãy tắt ads block nếu nội dung không được hiển thị