Chương 93: Làn sóng di dân Paraguay
Chiến tranh Paraguay không chỉ tạo ra rất nhiều trẻ mồ côi, mà còn khiến số lượng gia đình đơn thân và phụ nữ goá chồng tăng vọt.
Hiện tại, chiến tranh Paraguay vẫn chưa kết thúc, nhưng ít nhất cũng đã khiến khoảng bảy đến tám vạn phụ nữ goá phụ và trẻ mồ côi.
Với sự can thiệp của Tập đoàn Hechingen, một bộ phận trong số họ đã rời khỏi vùng đất tang thương này để tìm cuộc sống mới tại Đông Phi.
Căn cứ vào thời gian kết thúc chiến tranh Paraguay trong kiếp trước, dự án này có thể kéo dài thêm ba đến bốn năm nữa.
ⓚyhuyenⓒomTrước khi chính phủ mới ở Paraguay được thành lập, thuộc địa Đông Phi ít nhất có thể tiếp nhận hàng vạn người di cư từ Paraguay. Nếu khéo léo vận động, mười mấy vạn cũng không phải chuyện không thể.
Đây là cơ hội chỉ có trong chiến tranh. Paraguay vốn là quốc gia ít dân, trước chiến tranh chỉ có 500.000-600.000 dân (có tài liệu ghi hơn một triệu do thiếu khảo sát dân số).
Hành động của thuộc địa Đông Phi thực chất là đang rút cạn gốc rễ của Paraguay, tuy nhiên Paraguay cũng không phải không có đối sách.
Vốn dĩ Paraguay là quốc gia nhập cư, tương lai chỉ cần thu hút thêm di dân là được. Dĩ nhiên, nói thì dễ, chứ muốn thực hiện thì khác nào nói suông. Nếu chiêu mộ di dân dễ dàng như vậy, Ernst cũng đã không phải lao tâm khổ tứ rồi.
Hơn nữa, sau chiến tranh, Paraguay lại bị cắt mất một vùng đất lớn, trong nước thì hoang tàn đổ nát. Ai mà mù quáng tới mức muốn đến Paraguay để khởi nghiệp? Brazil và Argentina bên cạnh chẳng phải thơm hơn sao?
Ở điểm này, thuộc địa Đông Phi lại vượt trội hơn hẳn. Mặc dù mới được khai phá chưa lâu, nhưng ở châu Phi (không tính Bắc Phi), đây đã là vùng phát triển tốt nhất rồi.
ⓚyhuyenⓒom
Môi trường tự nhiên của Đông Phi, tuy không thể so với Argentina (nơi rất giống châu Âu, dễ thích nghi), nhưng ít ra cũng ngang tầm cao nguyên Brazil.
ⓚyhuyenⓒomHơn nữa, thuộc địa Đông Phi có kế hoạch và chủ đích rõ ràng trong việc chiêu mộ dân di cư, vượt xa các quốc gia châu Mỹ vốn dựa vào di dân tự phát.
Chẳng qua, thuộc địa Đông Phi thực hiện tiêu chuẩn “thà thiếu còn hơn sai”, tỏ ra bài xích với những thành phần như lưu manh, trộm cắp. Đồng thời cũng đề phòng các nhóm di cư khó kiểm soát, dễ gây bất ổn như dòng họ, bang phái.
Nếu không vì kiểm soát chất lượng, thì mỗi năm số lượng di cư vượt cả Hoa Kỳ cũng chẳng phải giấc mộng. Riêng dân di cư từ Viễn Đông cũng đủ để xếp hạng đầu thế giới.
Điều này không hề phóng đại. Vì vào thời đó, muốn mua được một vé tàu ra nước ngoài là vô cùng khó khăn, trừ khi gặp tình huống khẩn cấp do thuộc địa cần tuyển người gấp - nhưng tình huống đó không thể kéo dài lâu.
Không phải không có quốc gia từng muốn phát triển thuộc địa rồi lấy đó nuôi dưỡng chính quốc - năm xưa người Anh đầu tư vào châu Mỹ không ít, rốt cuộc bị một cuộc chiến giành độc lập phá hỏng hết.
Do đó, Ernst kiểm soát việc nhập cư vào thuộc địa Đông Phi rất chặt chẽ, quyết không để xuất hiện “cốt nhục phản loạn” kiểu Mỹ.
Lý do nước Mỹ có thể giành độc lập chính là vì có rất nhiều thành phần tinh anh, mà nhóm di cư trên tàu Mayflower năm xưa không phải là dân chạy nạn, mà là những người Thanh giáo có học thức và tổ chức.
Kiếp trước từng có một quan điểm rằng: lý thuyết Thanh giáo Calvin là nền tảng lập quốc của Hoa Kỳ.
Chính vì vậy, Ernst rất phản cảm với bất kỳ lý luận hay tín ngưỡng nào có thể tập hợp di dân, đặc biệt là những kết nối huyết thống hay tông tộc.
ⓚyhuyenⓒom
Trong thuộc địa Đông Phi thậm chí không có nhà truyền giáo hay nhà thờ nào. Tín ngưỡng của người di cư ở đây vô cùng hỗn loạn … Tin Lành, Công Giáo, Chính Thống giáo, thậm chí Hồi giáo… đều có cả.
Còn di dân đến từ Viễn Đông thì càng hỗn tạp hơn: thờ Tổ tiên, thờ Thổ địa, Thiên công, Ngọc Hoàng, Thành Hoàng… Một số người còn thường xuyên tiếp xúc với người phương Tây, nên đến mức đánh đồng cả Chúa và Allah - đúng là thể hiện tư duy cực kỳ thực dụng.
Cách quản lý của thuộc địa Đông Phi tương tự như một công ty. Ernst tự nhiên sẽ không chủ động xây dựng nhà thờ, cũng không có ý định chiêu mộ giáo sĩ.
Phần lớn dân di cư ở Đông Phi là người mù chữ, nông dân nghèo, chưa từng được học hành chính thống về tôn giáo. Dù có làm lễ cúng bái ở nhà, thì cũng là hiểu biết nửa vời, dựa vào kinh nghiệm truyền đời mà thôi.
Trong khi đó, các giáo sĩ lại có thể sử dụng quyền giải thích giáo lý để thông qua hoạt động truyền giáo, liên kết quần chúng lại. Do đó, Ernst nghiêm cấm giáo sĩ tiến vào Đông Phi.
Người di cư đến Đông Phi đa phần là thường dân, chẳng có dã tâm gì, tầng lớp lãnh đạo hầu hết là người Đức đến tuổi nghỉ hưu, định quay về Đức để dưỡng già.
Thêm vào đó là sinh viên của Học viện Quân sự Hechingen - trung thành tuyệt đối - luôn giám sát và ràng buộc. Tập đoàn Hechingen thì liên tục bồi dưỡng, bổ sung cho nhân sự bộ máy lãnh đạo.
Hiện tại, chính quyền thuộc địa Đông Phi rất ổn định, trong trạng thái cân bằng giữa nhiều phe nhóm. Và người giữ vai trò then chốt để duy trì toàn bộ cấu trúc này chính là Ernst.
Muốn gây chuyện trong thuộc địa Đông Phi ư? Đừng nói đến ràng buộc quyền lực chằng chịt, chỉ cần rời khỏi hệ thống ngoại thương của Tập đoàn Hechingen là toàn bộ cấu trúc kinh tế sẽ sụp đổ ngay lập tức.
Ngày 10 tháng 9 năm 1867
Morgens Kroeger, trưởng làng Ngaga, thị trấn Masasi, thành phố Ronroda, khu vực ven biển phía Nam của thuộc địa Đông Phi.
Hắn đang dẫn những người di cư từ Paraguay vừa được phân đến làng Ngaga đi xem nơi ở mới của họ.
“Thưa các quý bà, điều kiện hiện tại của khu vực Đông Phi vẫn chưa phải lý tưởng, vì vậy các ngôi nhà này có thể khá đơn sơ về nội thất và tiện nghi. Nhưng về mặt môi trường, thì chắc chắn không tồi chút nào.”
Morgens Kroeger chỉ ra ngoài cửa và nói:
“Các bà có thấy những cánh đồng màu mỡ ngoài kia không? Trông có phải rất tốt không? Phải biết rằng một năm trước, làng Ngaga vẫn chỉ là vùng hoang dã, nơi chỉ có động vật sinh sống. Còn hiện giờ, với sự đến nơi của dân di cư, ngôi làng đã phát triển với tốc độ có thể thấy bằng mắt thường. Vậy nên các bà không cần lo lắng về điều kiện sống hay triển vọng phát triển trong tương lai ở Đông Phi. Nơi đây cách xa chiến tranh, trật tự ổn định. Chính phủ đang dọn sạch thú dữ quanh vùng, giờ gần như không thấy bóng dáng chúng đâu nữa - rất an toàn.”
Người làm phiên dịch là một cư dân Paraguay biết tiếng Đức. Những người di cư này phần lớn là người gốc Tây Ban Nha, nhưng do tình hình phân mảnh và chiến loạn của nước Đức trong quá khứ, đã có rất nhiều người Đức di cư ra nước ngoài.
Hiện tại, sau khi Phổ thống nhất miền Bắc nước Đức, làn sóng di dân đã hạ nhiệt. Người phiên dịch là người gốc Đức di cư sang Paraguay từ đời ông bà, nên biết cả tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha.
Morgens Kroeger nói tiếp:
“Hơn nữa, các bà đã đến đúng lúc. Để chăm lo cho những phụ nữ và trẻ em mất người thân vì chiến tranh như các bà, Hoàng tử Ernst của Phổ - cũng là người sở hữu thuộc địa Đông Phi - đã tự bỏ tiền túi ra để trợ cấp cho các bà. Ngoài ra, thuộc địa Đông Phi còn miễn phí giáo dục cho con cái của các bà… Vì thế, cứ yên tâm sinh sống tại làng Ngaga, tương lai rồi sẽ ổn thôi.”
Sau khi nghe trưởng làng Morgens Kroeger giới thiệu, những người phụ nữ Paraguay - phải vượt đại dương từ đất nước xa xôi - cuối cùng cũng yên lòng.
Có người xúc động bật khóc, cầu nguyện Chúa ban phước lành cho Ernst.
Họ - những người đã mất chồng trong chiến tranh - thực sự rất đáng thương. Mà chiến tranh vẫn chưa có hồi kết, chẳng thấy chút hy vọng nào. Nên vì sự an toàn của con cái, họ buộc phải rời bỏ vùng đất thị phi - Paraguay - để đến Đông Phi sinh sống.
Tất nhiên, khoản trợ cấp cũng giúp họ hạ quyết tâm phần nào. Bởi từ nay về sau, chỉ có thể dựa vào bản thân để nuôi con. Có chút tiền trợ cấp thì cũng nhẹ gánh hơn.
Trước khi đến Đông Phi, có thể họ còn lo chính quyền nơi đây sẽ nuốt lời. Nhưng khi được chia nhà, nỗi lo ấy lập tức tan biến.
(Hết chương)
Chú thích:
[1] Thanh giáo Calvin: Dòng Tin Lành khắc kỷ, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Mỹ, đề cao lao động và tiết kiệm.
[2] Tông tộc/Hương đảng: Các nhóm di dân dựa trên quan hệ huyết thống hoặc địa phương - mối lo về "quốc gia trong quốc gia".